Thơ Đường

Post by On Tháng Sáu 05, 2014

Thơ đường luật hay Trung Quốc và của  Việt Nam. Những bài thơ đường hay về tình yêu và cuộc sống khiến bạn cảm động.

1

Thời nhà Đường là triều đại phong kiến phồn thịnh nhất của Trung Quốc, cũng là triều đại được thế giới công nhận là phát triển nhất trong lịch sử của quốc gia này. Các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao trong thời kì này đều đạt được những thành tựu quan trọng. Còn về văn hóa nghệ thuật, đây là thời kì hoàng kim trong lịch sử thi ca cổ đại Trung Quốc, và thơ Đường chính là điểm sáng trong các thành tựu văn hóa thời Đường. Cùng tiếng Trung THANHMAIHSK tìm hiểu về thơ đường nhé!

Thơ đường và hành trình phát triển

Các giai đoạn phát triển của thơ đường

Thơ Đường có thể chia ra làm 4 giai đoạn: Sơ Đường (618 – 713), Thịnh Đường (713 – 766), Trung Đường (766 – 835), Vãn Đường (835 – 907).

Thời Sơ Đường, các nhà thơ mệnh danh là “Tứ kiệt” gồm Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân, Lạc Tân Vương và Vương Bột đã đổi được phần nào phong khí uỷ mị của thơ các triều đại trước. Tới Trần Tử Ngang thì có phong trào đổi mới thi ca theo tinh thần phong nhã của “Kinh thi” và “phong cốt Hán Nguỵ”, chủ trương làm thơ phải có “ký thác”, nghĩa là nói lên tâm tình của mình, ghi lại cảm xúc thật sự của mình trước hiện thực đời sống, bỏ hẳn thơ sắc tình đời Lục triều, và thơ ca công tụng đức, thơ ứng chế của một số nhà thơ đầu đời Đường như Thẩm Thuyên Kỳ, Tống Chi Vấn. Các nhà thơ sau Trần Tử Ngang làm thơ “ký thác” đều theo 2 khuynh hướng chính là trữ tình, lãng mạn, hoặc hiện thực xã hội. Ba đại biểu lớn là Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị.

Màu sắc phong cách của các nhà thơ đời Đường rất khác nhau, tuỳ người sáng tác theo đạo Nho, đạo Phật hoặc theo Lão Trang.

Thơ Đường có loại thơ như sau: “biên tái” (Cao Thích, Sầm Than sáng tác), thơ “điền viên” (Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên sáng tác), thơ “tân nhạc phủ” (Bạch Cư Dị, Nguyên Chẩn sáng tác), thơ “chính nhạc phủ” đời Vãn Đường (sáng tác Bì Nhật Hưu, Đỗ Tuấn Hạc) và theo khuynh hướng hiện thực (Đỗ Phủ và Bạch Cư Dị sáng tác).

Các thể thơ Đường Luật

Thơ Đường có đề tài sáng tác phong phú, hình thức đa dạng, thể hiện tính tư tưởng và những thủ pháp nghệ thuật thuần thục. Thể thơ thơ Đường đa chủng loại, thơ cổ thể thì chủ yếu chia làm 2 loại thất ngôn và ngũ ngôn.

Thơ cận thể cũng có 2 loại, tuyệt cú và Đường luật. Tuyệt cú và Đường luật phân thành ngũ ngôn và thất ngôn.

Vì thế, thể thơ thơ Đường về cơ bản là có 6 loại: ngũ ngôn cổ thể, thất ngôn cổ thể, ngũ ngôn tuyệt cú, thất ngôn tuyệt cú, ngũ ngôn Đường luật, thất ngôn Đường luật. Thơ Đường phân thành 4 trường phái lớn, bao gồm trường phái sơn thủy điền viên, thơ về biên cương chiến trận, thơi lãng mạn và thơ theo trường phái hiện thực.

Mỗi trường phái đều có những tác giả xuất sắc và tác phẩm đặc sắc. Trường phái sơn thủy điền viên thì có Vương Duy với tác phẩm “Đêm thu ở núi”, thơ về chiến trận thì có bài “Tiễn biệt Đổng Đại” của Cao Thích, trường phái lãng mạn thì có Lí Bạch với bài “ Một mình uống rượu dưới trăng”, trường phái thơ hiện thực thì có Đỗ Phủ với bài “Cuộc chia li của cặp vợ chồng mới cưới”. Đây đều là những  tác phẩm và tác giả đại biểu xuất sắc cho mỗi trường phái.

Hiện nay, tuy rằng nhịp sống hiện đại ngày một gấp, văn học cổ đại đã không còn được coi trọng nhưng tôi tin rằng những câu thơ như “Ngẩng đầu nhìn trăng sáng Cúi đầu nhớ cố hương” sẽ mãi mãi không bị lãng quên. Thơ Đường vĩnh viễn là một viên ngọc sáng trong kho tàng văn hóa Trung Quốc.

Môt số bài thơ đường Trung Quốc hay
2

Bài thơ của VƯƠNG BỘT

1. TƯ QUY

Trường Giang bi dĩ trệ

Vạn lý niệm tương quy

Huống phục cao phong vãn

Sơn sơn hoàng diệp phi

2. NGHĨ TRỞ VỀ

Trường Giang đượm sầu thương

Muôn dặm nghĩ về làng

Chiều tối gió cao thổi

Núi non bay lá vàng

Bài thơ của THƯỢNG QUAN NGHI

1. LẠC ĐÊ HIỂU HÀNH

Mạch mạch quảng xuyên lưu

Khu mã lịch trường châu

Thước phi sơn nguyệt thự

Thuyền táo dã phong thu

2. TRỜI SÁNG ĐI TRÊN ĐÊ SÔNG LẠC

Sông rộng trôi cuồn cuộn

Bãi dài ngựa ruổi mau

Thước bay trăng núi sáng

Ve rộn gió đồng thâu

Bài thơ của VI THỪA KHÁNH

1. NAM HÀNH BIỆT ĐỆ

Đạm đạm trường giang thủy

Du du viễn khách tình

Lạc hoa tương dữ hận

Đáo địa nhất vô thanh

TỪ BIỆT EM ĐI XUỐNG PHÍA NAM

Nước sông trôi lặng lẽ

Viễn khách nhớ thương dài

Hoa rụng sầu tê tái

Nhẹ nhàng không tiếng rơi

Bài thơ của ĐƯỜNG HUYỀN TÔNG

Đường Huyền Tông có bài thơ QUA NƯỚC LỖ TẾ KHỔNG TỬ rồi thở than

Chẳng biết bởi đâu mà Khổng Tử

Suốt đời lận đận biết bao phương

Chốn xưa đây vẫn làng châu thị

Nhà cũ nay là cung Lỗ Vương

Than phượng , luống thương mình bĩ vận

Khóc lân , riêng oán đạo cùng đường

Ngắm trông đồ tế bên hai trụ

Ngỡ giống như trông giấc mộng vàng


22