19 Th12

Cờ tướng của Trung Quốc

Cờ tướng của Trung Quốc
5 (100%) 1 vote
Khi đi bộ trên đường phố Trung Quốc ta có thể thỉnh thoảng bắt gặp vài người tụ tập lại một nơi, đứng nhìn chăm chú vào cái gì đó. Nếu thử chen vào kẽ hở giữa đám người đó và xem thử việc gì thì thấy hai chú đứng tuổi đang đánh cờ tướng.
Khi đi bộ trên đường phố Trung Quốc ta có thể thỉnh thoảng bắt gặp vài người tụ tập lại một nơi, đứng nhìn chăm chú vào cái gì đó. Nếu thử chen vào kẽ hở giữa đám người đó và xem thử việc gì thì thấy hai chú đứng tuổi đang đánh cờ tướng. Mỗi khi đánh một quân thì những người xung quanh càng gây ồn ào hơn. “Đánh như vậy thì con mã chết mà”. “Ăn con đó không được. Con pháo bên cạnh đang đợi kìa”.

Bình thường nếu mách nước như vậy thì người đánh cờ sẽ thấy khó chịu nhưng ở Trung Quốc việc đánh cờ tướng rất tự nhiên. Họ cũng không hối thúc người chơi đánh nhanh lên. Tự mình suy nghĩ điều này điều kia, nếu không được thì hỏi thử người xung quanh rồi đánh một nước. Người Trung Quốc không phải đánh cờ để phân thắng thua mà đánh cờ tướng để nói chuyện với nhau. Con cờ khá lớn đã ố màu bởi dấu tay và bàn cờ thô như một người bạn cùng chia ngọt sẻ bùi với họ.

 

 


Trong cờ tướng chia ra hai nước Hán, Sở. Bên nước Sở có Hạng Vũ mạnh mẽ và dũng mãnh, bên nước Hán thì có Lưu Bang tính cách thoải mái và giao thiệp rộng. Mới đầu thế lực của nước Sở rất mạnh và chiếm lĩnh thiên hạ nhưng bởi sự xuất hiện của một người gọi là Hàn Tín thì thế trận đã nghiêng về phía nước Hán. Và kết cuộc nước Hán đã thống nhất Trung Quốc.

Có một bài viết khá thú vị về Hạng Vũ và Lưu Bang. Khi nhìn thấy cuộc viếng thăm lộng lẫy và hoành tráng của Tần Thủy Hoàng thì Hạng Vũ suy nghĩ “ta sẽ giết hắn và thế vào vị trí đó”, còn Lưu Bang thì thán phục “sinh ra là đấng nam nhi thì cũng đáng có chuyến viếng thăm như vậy chứ!”. Ở đây có thể thấy được sự khác biệt về tấm lòng của Lưu Bang và Hạng Vũ. Hạng Vũ là người nghĩ mình tuyệt đối là nhất và có nhiều điều kiện thuận lợi. Người đó có sức mạnh hơn hẳn những người bình thường và có tài thao lược binh khí xuất sắc. Hạng Vũ tự mình làm bài thơ nói rằng “sức mạnh và khí khái nhổ được cả núi”, vóc dáng là một người khỏe mạnh được công nhận. Sau khi Tần Thủy Hoàng chết, Hạng Vũ lập nên nước Sở, chinh phục nhiều nước chư hầu và nhận được danh tiếng là Bá Vương. Chỉ có bấy nhiêu thôi sao? Ngu mỹ nhân là một trong số những mỹ nhân bậc nhất thời xưa ở Trung Quốc là vợ của Hạng Vũ, ông có một quân sư già đầy trí tuệ tên là Phạm Tăng. Thế nhưng một Hạng Vũ có những điều kiện tốt đẹp như vậy cuối cùng bị diệt vong bởi sự xuất hiện của Hàn Tín.

 

 


Hàn Tín xuất thân là hoàng tộc, học thức uyên bác và phẩm chất cũng tốt bụng. Tuy nhiên sau khi gia cảnh xuống dốc thì đã ở ẩn tại miền quê. Không có một ai biết về Hàn Tín mà chỉ có một kỹ nữ nọ biết được giá trị của Hàn Tín và nuôi dưỡng Hàn Tín. Người ta đã hết lời chửi rủa Hàn Tín là “cây cột của kỹ nữ”, “con kí sinh trùng nhỏ sống bám trên con kí sinh trùng lớn”. Hàn Tín cũng bị tổn thương lòng tự trọng và nuôi hy vọng rằng “một lúc nào đó ta sẽ gặp được người nhìn ra ta” và sống qua từng ngày. Khi người kỹ nữ nuôi Hàn Tín qua đời thì Hàn Tín đi trên đường và ăn xin. Một ngày nọ một tên du đãng trong làng chửi bới Hàn Tín và gây sự kêu đánh nhau một trận. Nếu không muốn thì phải bò qua dưới đáy quần của hắn ta. Ngay khi ấy Hàn Tín đã bò qua dưới đáy quần hắn ta. Những người làng nhìn thấy cảnh đó chịu không được bèn gọi Hàn Tín là “thằng đáy quần”.

Khi ấy Hàn Tín nghe tin đồn về Hạng Vũ nên tìm đến Hạng Vũ. Hạng Vũ nghe nói Hàn Tín là hoàng tộc thì ném cho một cây giáo bảo đi theo. Hạng Vũ đã cho Hàn Tín một chức lính quèn nhất.

Sau đó Hàn Tín đã lưu vong sang nước có Lưu Bang. Lưu Bang biết Hàn Tín là hoàng tộc nên đã tiếp đãi ân cần, ban cho vị trí ngang bằng người cố vấn của mình. Hạng Vũ đánh giá trị Hàn Tín là một tên lính quèn nhưng Lưu Bang đã đối đãi người đó như là một hiền nhân có học thức uyên bác. Khi lập Hàn Tín lên làm quân sư thì giá trị thật sự của Hàn Tín bắt đầu được bày tỏ ra.

Hàn Tín đã giúp Lưu Bang đánh nhau với binh lực thiếu kém hơn nước Sở và chiếm được nhiều lãnh thổ, đối đãi khoan hồng với dân chúng các nước chiếm được nên Lưu Bang nhận được tấm lòng của dân chúng.

Dân chúng đã theo Lưu Bang mềm mỏng và tốt bụng hơn Hạng Vũ quá khích và đáng sợ. Cho nên thế lực của Lưu Bang dần lớn hơn.

Và Hàn Tín đã dùng kế sách ly gián Hạng Vũ và quân sư của người đó là Phạm Tăng, rốt cuộc Phạm Tăng đã lìa Hạng Vũ và quay về quê mình. Và khi Hạng Vũ bỏ thành ra trận thì Hàn Tín cấu kết với người giữ thành chiếm lấy thành của Hạng Vũ. Khi Hạng Vũ tỉnh trí ra thì thế trận đã nghiêng về phía Lưu Bang, Hạng Vũ mất nước chuẩn bị đánh nhau trận cuối cùng với Lưu Bang tại thành còn lại.

Hàn Tín thật kiên cường. Đêm trước ngày ra trận đã vây thành của Hạng Vũ, sai nhạc sỹ ca lên khúc ca của nước Sở. Từ đây mà có từ “tứ diện Sở gia”. Các binh sĩ nghe bài hát của nước Sở thì nhớ đến quê hương nên đa số người đã rời bỏ Hạng Vũ và lén bỏ trốn, số binh sĩ còn lại chưa được đến 100 người. Và ngay cả Ngu mỹ nhân người Hạng Vũ yêu thương cũng tự sát. Hạng Vũ cùng số binh sĩ còn lại đã đánh trận quyết tử với quân lính của nước Hán và chạy đến Ô Giang, khi đó chỉ còn lại vài tướng chỉ huy. Các tướng đã khuyên Hạng Vũ rút lui nhưng Hạng Vũ đã từ chối mà rằng “Nếu quay về quê với bộ dạng như vầy thì danh xưng Bá Vương còn đâu nữa?”. Kết cuộc ông đã tự kết liễu mà chết.

Thông qua đời sống của Hạng Vũ có thể biết được, Hạng Vũ tin cậy bản thân mình cho đến giây phút cuối cùng vẫn không bỏ lòng tự trọng của mình nhưng Lưu Bang thì khác. Lưu Bang không từ chối việc người ta tìm đến với mình và không phán đoán giá trị của con người qua bề ngoài. Kết quả là nhận được Hàn Tín và thống nhất cả thiên hạ.

Khi chúng ta sống có nhiều khi thấy suy nghĩ của mình là tốt đẹp. Nhưng nếu chỉ ngoan cố với suy nghĩ của chính mình thì sẽ đánh mất cả điều kiện mình đang có và dẫn đến kết quả tự diệt vong.

Các bộ phim lịch sử nhiều khi ca ngợi hình ảnh của Hạng Vũ và mối tình lãng mạn giữa Ngu Cơ và Hạng Vũ. Bên cạnh đó có nhiều tài liệu nhận xét khác nhau về Hạng Vũ và Lưu Bang, có khi tỏ ra đề cao Hạng Vũ dù thất bại nhưng là vẫn là dòng máu Hán tộc, ngược lại cho rằng Lưu Bang chỉ là một kẻ dùng mưu mô để lấy được lòng dân, nhưng chính đời sống cá nhân của nhân vật này cũng có nhiều vấn đề, ở đây chúng ta không đi sâu vào khía cạnh này.

 

 


Ngay cả hôm nay nhiều người Trung Quốc vẫn đánh cờ tướng. Họ đánh cờ tướng và nhớ về câu chuyện của Hạng Vũ, Lưu bang và Hàn Tín, và kể lại cho con cháu nghe câu chuyện đó. Nhìn lại chủ tịch Hồ Cẩm Đào của Trung Quốc và cả quá khứ của Trung Quốc làm tấm gương, ông nổi tiếng là nhà lãnh đạo không tin cậy vào bản thân mình và lắng nghe ý kiến của người khác hơn là tiếng nói của chính mình.

Chỉ là trong một bàn cờ tướng thôi cũng chứa đựng giáo huấn sâu sắc về cuộc sống của người Trung Quốc. Đó là điều mà mỗi một chúng ta cần phải suy ngẫm.

19 Th12

Sự phát triển nghệ thuật uống trà của người Hoa

Rate this post
Sự phát triển của trà chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: từ thời nhà Ngô đến thời nhà Đường, Giai đoạn 2: sau Đường đến thời Tống, Giai đoạn 3: sau thời Tống đến thời Minh – Thanh.

 

Sự phát triển của trà chia làm 3 giai đoạn

• Giai đoạn 1: từ thời nhà Ngô đến thời nhà Đường:
Chính thức theo lịch sử thì trà chỉ mới được đề cập đến từ thời Tam Quốc, và đến tận đời Đường, người Tàu vẫn chỉ dùng các loại trà mọc hoang chứ chưa trồng và chế biến thức uống này. Trà cũng chỉ lưu hành trong giới thượng lưu miền Nam Trung Hoa chứ dân dã cũng chưa uống và tục uống trà chưa được coi như một thú thanh cao. Quả thực thời kỳ đó hai miền nam bắc Trung Hoa đời sống cách biệt như hai thế giới. Về cách uống cũng khác biệt,giữa hai bờ đai giang và nhất là dân du mục ngoài Trường Thành thì uống trà pha sữa trâu bò, dê, ngựa. Đến đời Tùy nước Tàu thống nhất thì những sinh hoạt mới lan truyền ra những vùng khác. Tuy việc uống trà đã phổ thông nhưng vẫn có một số đặc điểm khác ngày nay:
– Thứ nhất trà vẫn còn coi như một vị thuốc, chưa có mấy nơi coi như một thức uống.
– Thứ hai trà do dân chúng vào vùng hoang sơn dã lãnh hái về chứ chưa biết trồng thành đồi, thành vườn để sản xuất một cách qui mô.
– Thứ ba trà uống theo kiểu giản dị là hái lá vào đem nấu chứ chưa kiểu cách như sau này.
Tới đời Đường, khi Lục Vũ viết cuốn Trà Kinh thì trà mới trở nên phổ biến. Từ đó trở đi, nơi nơi đều uống trà, trở thành một phong trào và sản xuất trà cũng thành một lãnh vực kinh tế qui mô, đem lại một ngân khoản lớn cho triều đình.

 

 

 

 

Trà Trung Hoa có nhiều loại và thay đổi theo thời gian. Vào đời nhà Đường, người Trung Hoa phơi nắng lá và nghiền nhuyễn lá trà để làm nổi bật hương vị của trà. Sau đó, trà được đãi lược, hấp và ép vào khuôn đúc và đặt trong những gian phòng có nhiệt độ cao để sấy khô. Theo Bressett (1998) trà ép khuôn được dùng làm tiền tệ cho một số vùng tại Á Châu như tại Tây Bá Lợi Á, Mông Cổ, Tây Tạng và một số vùng biên giới phía Tây của Trung Hoa. Người Nga sống trong vùng Tây Bá Lợi Á ưa chuộng trà ép khuôn hơn các đồng tiền kim loại vì lợi ích thực dụng của chúng trong việc chữa các bệnh về cảm cúm. Trà ép khuôn có nhiều kích thước và được đóng dấu cho biết giá trị của chúng. Cách dùng trà loại này khác hẳn với cách uống trà ngày nay. Khi pha trà, một phần của bánh trà được bẻ ra, nấu với chút muối tương tự như cách nấu súp. Ðây là cách pha trà của thời kỳ còn sơ khai. Trà khi nấu lên còn được bỏ thêm nhiều gia liệu, hương liệu như: cốm, gạo, vừng, vỏ cam, sữa, chà là và đôi khi cả hành.

 

Trong tác phẩm “Trà Kinh” (Kinh thư của Trà Ðạo), Lục Vũ “một nhà thơ, đệ nhất sứ đồ của Trà Ðạo” sống ở khoảng giữa thế kỷ thứ 8 đã miêu tả cách pha trà bánh (Ðoàn trà) như sau: nước để pha trà tốt nhất là nước sơn tuyền, rồi đến nước sông và các nguồn khác. Người ta đem trà bánh hong trước bếp lửa cho đến khi thật mềm rồi đặt giữa 2 tờ giấy tốt nghiền vụn ra. Khi nước sôi ở độ thứ nhất tức là có những bọt nước nho nhỏ như mắt cá bơi trên mặt nước thì bỏ muối vào. Ðến khi nước sôi độ thứ nhì tức là khi bọt nước trông giống như những hạt châu bằng pha lê lăn đi trong suốt thì bỏ trà vào. Ðến độ sôi thứ ba tức là sóng nước sủi lên sùng sục trong ấm thì đổ một thìa nước lã vào ấm để “trấn” trà và làm cho “nước hồi phục lại nguyên khí” rồi mới rót trà ra thưởng thức.Đời Đường, khu vực sản xuất trà bao gồm Giang Hoài, Lưỡng Chiết, Lãnh Nam, Phúc Kiến, Kinh Tương và từ đó tới nay vẫn là những địa khu chủ yếu. Theo Chu Trọng Thánh, việc phong thịnh đời Đường bao gồm ba nguyên nhân chính:
– Thứ nhất, thời Đường giao thông đã phát đạt, các phương tiện chuyên chở đã cải tiến nhiều.
– Thứ hai, sau khi cuốn Trà Kinh của Lục Vũ viết ra, phong trào uống trà càng lên cao.
– Thứ ba, thời kỳ đó Phật giáo và Lão giáo hưng thịnh và việc uống trà tại các chùa chiền, miếu mạo rất phổ biến.

 

 


Giai đoạn 2: sau Đường đến thời Tống:
Trong lịch sử Trung Hoa, hoàng đế Huy Tôn (1082-1135) của nhà Bắc Tống được xem như vị có công lớn trong việc cổ vũ và phát huy một số ngành nghệ thuật như hội họa, thơ văn và uống trà. Bản thân ông là một họa sĩ chuyên vẽ về đề tài hoa điểu, và là một thư pháp gia (calligrapher) nổi tiếng. Ông cũng viết một số bài ca ngợi thú uống trà bột. Ông say mê các ngành nghệ thuật này đến độ không ý thức được việc đế quốc Kim, từ phương Bắc, sắp sửa thôn tính trọn vẹn đất nước của ông.
Mạt trà trở nên thịnh hành, thay thế Ðoàn trà. Người ta bỏ lá trà vào cối đá xay thành bột rồi đem khuấy trong nước sôi bằng một thứ dụng cụ bằng tre tốt có một đầu chẻ ra thành nhiều mảnh. Muối và các hương liệu, gia liệu bị bỏ dần. Cách uống trà này được truyền sang Nhật Bản và phát triển thành một phái Trà Ðạo riêng biệt ở xứ “Mặt trời mọc”.
Giai đoạn 3: sau thời Tống đến thời Minh – Thanh:
Khi quân Mông Cổ chiếm trọn Trung Hoa và lập ra nhà Nguyên năm 1280, vị trí của trà bị lu mờ, một phần vì thời cuộc và một phần vì những người cai trị mới có sở thích dùng các thức uống của dân du mục Mông Cổ, như rượu sữa kumiss. Đến thời nhà Minh (1368-1644), trà không những được phục hồi vị trí vẻ vang của các thời Đường, Tống, mà còn thăng hoa như một nghệ thuật cao quý. Trong hoàng cung nhà Thanh, trà không những dùng để uống, mà còn được pha tiếp khách nước ngoài. Châu Nguyên Chương (1328-1398), người sáng lập ra nhà Minh, quyết định bỏ hẳn lối sản xuất trà ép khuôn và trà bột vì quy trình sản xuất các loại trà này đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức. Quyết định này là động cơ thôi thúc các nghệ nhân lò Cảnh Đức Trấn, tỉnh Giang Tây và lò Yixing, tỉnh Giang Tô vẽ ra nhiều kiểu ấm và chén tinh xảo cho cách thức uống trà mới. Trà bột nhường chỗ cho trà có dạng lá tự nhiên và có cách chế biến như ngày nay.

 

 

 

 

Trà là nét văn hóa đặc thù trong nền văn hóa Trung Hoa, có sức lan tỏa mạnh mẽ. Ngày nay, những quán trà đậm chất Trung Hoa có mặt ở khắp nơi trên đường phố, các khu thương mại,… Đến với nghệ thuật “ẩm trà”, chúng ta sẽ khám phá được những vùng đất nổi tiếng, phong tục, lễ hội, văn hóa và đời sống cư dân bản địa. Và đặc biệt, ta sẽ không quên những giây phút thư giãn bên tách trà xanh thơm mát, đậm đà.

19 Th12

Kinh kịch Trung Hoa – Cao vời mà diễm lệ

Rate this post

Kinh kịch Trung Hoa

 Cao vời mà diễm lệ

Kinh kịch (京劇/京剧) hay kinh hí (京戲/京戏)là một thể loại ca kịch của Trung Quốc hình thành và phát triển mạnh tại Bắc Kinh vào thời vua Càn Long của vương triều nhà Thanh, là kết quả của sự trộn lẫn giữa Huy kịch với Hán kịch.

Kinh kịch (京劇/京剧) hay kinh hí (京戲/京戏)là một thể loại ca kịch của Trung Quốc hình thành và phát triển mạnh tại Bắc Kinh vào thời vua Càn Long của vương triều nhà Thanh, là kết quả của sự trộn lẫn giữa Huy kịch với Hán kịch.
Ban đầu nghệ thuật diễn tuồng sân khấu của Trung Hoa cổ được gọi là ca kịch hay hý kịch là một thể loại diễn tuồng bao gồm ca múa (ngâm khúc kèm theo nghệ thuật vũ đạo), thậm chí có cả các loại tạp kỹ pha trộn như kể chuyện, các màn nhào lộn, xiếc, diễn hoạt kê (tiếu lâm khôi hài), đối thoại trào lộng và võ thuật.

kinh kịch
Từ thời nhà Đường trở về trước nghệ thuật diễn tuồng sân khấu được gọi là hý kịch.
Các thể loại kịch của Trung Quốc cũng như các loại hình biểu diễn sân khấu tương tự tại các nước trong khu vực như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam thường lấy các sự tích câu chuyện những vị anh hùng trong dân gian và lịch sử làm đề tài chủ đạo.

Cho đến thời nhà Đường, được phát triển thành Tham quân hí (hoặc được gọi là Lộng tham quân) bao gồm hai vai: một người mặc y phục xanh lục tề chỉnh, thông minh cơ trí và linh lợi, tên vai diễn gọi là Tham quân; còn người kia ăn mặc lôi thôi, khờ khạo đần độn, tên vai diễn gọi là Thương cốt. Hai nhân vật này trong vở khi diễn thường có những lời đối đáp khôi hài trào lộng. Tham quân là vai chính, Thương cốt là vai phụ. Đôi khi Tham quân là đối tượng để làm trò cười và cuối cùng bị Thương cốt đánh đập.

Đến thời nhà Tống, Tham quân hí biến thành Tạp kịch. Vai diễn cũng chỉ có hai người: Thương cốt (vai khờ khạo) được đổi thành tên Phó mạt, còn Tham quân (vai tinh khôn) được đổi tên là Phó tịnh. Trong khi diễn, diễn viên nam cũng có thể hóa trang thành nhân vật nữ để diễn xuất, được gọi là Trang đán. Đến thời Nam Tống, vùng đất Ôn Châu là nơi nổi danh về hí kịch, ca múa, nên sản sinh ra thể loại được gọi là Nam hí (hí kịch Nam Tống).

 

kinh kịch

Thời nhà Tống nghệ thuật diễn không chú ý đến các vai nữ (Đán giác). Vai nữ được xếp hạng là «đệ tử» (con em). Trong ban hát đều là nữ thì được gọi là «đệ tử tạp kịch». Vai chính được gọi là Chính đán, vai già là Lão đán, vai trẻ là Tiểu đán, Trà đán, Thiếp đán, v.v…
Vào thời nhà Nguyên, vai nữ (đán giác) lại rất được xem trọng. Đó cũng là điểm khác biệt giữa tạp kịch thời nhà Nguyên và tạp kịch thời nhà Tống.

Tính chất tạp kịch thời nhà Tống và thời nhà Nguyên có chung một tính chất là khôi hài, hoạt kê, nhưng tạp kịch thời nhà Nguyên có nhấn mạnh thêm tính chất phê phán thói đời và các tệ nạn xã hội.

Tạp kịch thời nhà Nguyên là thành tựu rất lớn và ở giai đoạn đỉnh điểm hưng thịnh của nó trong suốt hai thế kỷ XIII-XIV. Nhiều nhà soạn những vở diễn tuồng múa hát rất nhiều, khoảng trên 150 người, trong số đó nổi tiếng nhất là Quan Hán Khanh có ít nhất cũng khoảng 60 vở tuồng.

Tạp kịch thời nhà Nguyên thâu hóa và chuyển thể các tác phẩm văn học Trung Quốc cổ đại. Trong một vở thường có bốn hồi và đôi khi có thêm phần phi lộ. Vai chính phải hát trong thời gian diễn suốt vở kịch. Dù các nhạc phổ của Nguyên khúc không còn giữ được, nhưng qua hình ảnh và các tư liệu còn lại, người ta đã phát hiện các loại nhạc cụ gồm sáo, trống, não bạt.
Các nhân vật trong tạp kịch thời nhà Nguyên là anh hùng, văn nhân, kỹ nữ, cường đạo, quan tòa, ẩn sĩ, và các vai siêu nhiên (ma, quỉ, v.v…).

Cuối thời nhà Nguyên, Nam hí chuyển hóa thành thể loại Truyền kỳ. Truyền kỳ tập trung vào các chủ đề tình cảm lãng mạn trên sân khấu trong suốt 200 năm sau đó. Âm nhạc trong thể loại Nam hí bao gồm các khúc hát và ca từ trong dân gian, các bài ca dao ở thôn quê mang tính chất đặc thù địa phương khá đậm. Do vậy trong Truyền kỳ nghệ thuật diễn đã phát triển thành hệ thống bốn giọng nói địa phương: Hải Diêm, Dặc Dương, Dư Diêu, và Côn Sơn. Các Khúc hát vùng Côn Sơn được gọi là Côn khúc thống lĩnh sân khấu từ cuối thời nhà Minh.

Đến thời nhà Thanh thì Côn khúc được gọi là Nhã bộ, rất được giới sĩ phu trí thức hâm mộ. Vào giai đoạn Côn Khúc suy tàn, các loại hí kịch địa phương mới có dịp nở rộ và được gọi theo tên địa phương như Xuyên kịch của vùng Tứ Xuyên, Tương kịch của vùng Tương Dương, cho đến Cống kịch, Huy kịch, v.v… mà sau này tất cả được gọi là chung là Kinh Kịch. Kinh kịch đôi khi được diễn giải là loại hát kịch ở Bắc Kinh.

Trong Kinh kịch thường hay có các màn nhào lộn, xiếc, và diễn trò và không có vị trí gì trong võ thuật Trung Hoa. Nhưng võ thuật Trung Hoa đã thâm nhập vào loại hình nghệ thuật này và góp sức làm giàu thêm cho khung cảnh Văn hóa Trung Hoa.

kinh kịch

Sau này các diễn viên Kinh kịch được đào tạo bài bản thường chuyển sang thành các diễn viên võ thuật trong điện ảnh như Quan Đức Hưng là người đầu tiên diễn vai Hoàng Phi Hồng, Thành Long (còn gọi là Jackie Chan) trong các thể loại phim võ hài do anh đổi mới phong cách cùng với Hồng Kim Bảo (Hong Sammo) để thoát ra khỏi tầm ảnh hưởng của thể loại phim Kungfu của Lý Tiểu Long khởi xướng từ cuối thập kỷ 1960, Lục Tiểu Linh Đồng trong vai Tôn Ngộ Không trong bộ phim truyền hình nhiều tập Tây Du Ký được chuyển thể từ tác phẩm văn học cùng tên của nhà văn Ngô Thừa Ân thời nhà Minh, …

Có thể nói rằng Kinh kịch đã góp phần làm phong phú diện mạo của điện ảnh Hồng Kông và Trung Quốc hiện đại. Do đó có người cho rằng trong thể loại phim quyền cước của Hồng Kông có hai loại võ thuật là võ thuật thật sự của các võ sư và quyền sư tham gia diễn và võ thuật sân khấu của những diễn viên Kinh kịch chuyển sang.

19 Th12

Thư pháp Trung Quốc

Hình ảnh thư pháp trung quốc đẹp 2
Thư pháp Trung Quốc
5 (100%) 1 vote

Thư pháp Trung Quốc – Nghệ thuật viết chữ thư pháp Trung Quốc. Tìm hiểu về văn hóa thư pháp của người Trung Quốc xưa.

Thư pháp Á Đông là nghệ thuật viết chữ đẹp có nguồn gốc từ Trung Quốc. Người ta dùng bút lông, chấm mực tàu, viết chữ Hán trên các loại giấy tốt hay vải lụa, theo những phong cách khác nhau. Trong nghệ thuật thư pháp Á Đông có 5 phong cách viết là Chân (hay còn gọi là Khải), Triện, Lệ, Hành và Thảo với những quy luật đặc trưng riêng về đường nét, cách thức thể hiện. Thư pháp Trung Quốc trở thành một  trong những lĩnh vực được nhiều người quan tâm, nghiên cứu và học tập.

hinh-anh-thu-phap-trung-quoc-dep-1

Thư pháp Trung Quốc từ cố chí kim

Nói đến thư pháp là nói đến khổ luyện. Người Trung Quốc thường bảo:

«Học thư vô nhật bất lâm trì.»

(Học thư pháp chẳng ngày nào mà không «vào ao»).

Thuật ngữ lâm trì ý nói công phu khổ luyện thư pháp. Thư gia Trương Chi đời Đông Hán mỗi ngày luyện viết xong thì rửa bút ở ao, lâu ngày nước đen như mực (Lâm trì học thư, trì thủy tận mặc).

Việc học thư pháp xưa nay khởi đầu bằng khải thư, khi thuần thục mới chuyển sang hành thư và thảo thư hoặc triện thư. Thời kỳ đỉnh thịnh của khải thư là đời Đường, nổi bật nhất là các đại thư gia Nhan Chân Khanh, Âu Dương Tuân và Liễu Công Quyền. Đến đời Nguyên thì có thêm Triệu Mạnh Phủ. Tiêu chuẩn để đánh giá một tác phẩm thư pháp thường bao gồm nhiều yếu tố rất khắt khe như điểm hoạch (đường nét), kết thể (bố cục), thần vận (cái hồn của tác phẩm)…

hinh-anh-thu-phap-trung-quoc-dep-2

Thư pháp tại Nhật Bản gọi là thư đạo. Theo các chuyên gia thư pháp Nhật Bản, chữ Hán được truyền từ Trung Quốc sang Nhật Bản từ khoảng 2000 năm trước, được sử dụng phổ biến ở Nhật Bản từ khoảng thế kỷ 5. Sau đó, dựa trên cơ sở chữ Hán, người Nhật đã sáng tạo ra kiểu chữ của mình là chữ Hiragana và Katakana (kiểu chữ biểu thanh). Thư pháp Nhật Bản được hình thành từ hai kiểu chữ chính là kiểu chữ Hán từ Trung Quốc đến và kiểu chữ Hiragana, Katakana. Hiện nay, ở Nhật Bản có từ 8 đến 10 triệu người tham gia viết thư pháp, và thư pháp được coi là một trong những môn nghệ thuật đặc sắc của Nhật Bản.
Thư pháp là một môn nghệ thuật phát xuất từ Trung Hoa và đã được các nước Nhật, Triều Tiên, Việt Nam âm thầm chấp nhận và lặng lẽ duy trì.

Ðối với phương Tây, thư pháp được thực hiện bằng nhiều phương tiện : bút sắt, cọ, thước, compa, êke…Con chữ được nắn nót theo chuẩn mực và tỷ lệ. Ðó là cái đẹp của các con chữ theo thị giác người sử dụng hệ chữ La Tinh.

Ðối với người phương Ðông, nói đến môn Thư pháp, người ta thường nghĩ đến cách viết chữ Hán với phong cách đặc biệt… Với cây bút lông, mực và giấy người Trung Hoa đã đưa nghệ thuật viết chữ vươn lên đỉnh cao với lý thuyết phong phú, mang tính triết học, thiền học, trở thành nền văn hóa đặc trưng của người Trung Hoa.

Tranh thư pháp Trung Quốc

hinh-anh-thu-phap-trung-quoc-dep-3

Xem tranh thư pháp Trung Quốc, người ta thường thấy ngoài phần viết chữ đề thơ và lạc khoản của tác giả, còn có khá nhiều dấu triện đóng ở các góc tranh, nhất là ở những bức tranh nổi tiếng. Có những bức nhiều chi chít đến vài chục con triện méo, tròn, vuông, chữ nhật đủ cả. Tôi chưa có dịp nào tiếp xúc được với người thạo về tranh quốc họa để hỏi xem bức nhiều nhất đã có bao nhiêu con triện được đóng lên…

Mỗi thư họa gia có không ít ấn chương, như Tề Bạch Thạch cả chục biệt hiệu nên số ấn chương cũng nhiều chẳng kém. Bản thân ông cũng làm nghề khắc ấn mưu sinh, nên có nhiều ấn cũng không lạ. Bát Đại Sơn Nhân có khoảng 30 ấn, phân làm danh chương và nhàn chương (như đã nói trên). Nhàn chương phản ảnh tư tưởng và tâm trạng tác giả trong một giai đoạn đặc biệt nào đó trong đời ông ta. ấn văn (nội dung của ấn) có thể là một danh ngôn, hoặc do tác giả đặt ra để bày tỏ nỗi lòng hay ý chí. Chuyên gia về ấn có thể xác định ấn được khắc vào khoảng thời gian nào trong cuộc đời tác giả.

Chuyên gia Chu Sĩ Tâm (HongKong) đã bỏ công nghiên cứu khoảng 30 ấn chương của Bát Đại Sơn Nhân và phân tích tỉ mỉ ấn văn của từng con ấn, thật là kỳ công. Thí dụ, có một ấn của Bát Đại Sơn Nhân mà ấn văn chỉ có một chữ lư (con lừa).

Bấy nhiêu đó cũng đủ hiểu tâm trạng của đại thư họa gia này. Bát Đại Sơn Nhân mang tâm trạng u uất của một di thần nhà Minh khi Nhà Thanh thành lập.

Để viết được chữ thư pháp Trung Quốc đẹp cần sự am hiểu sâu và đôi tay khéo léo. Nghệ thuật thư pháp Trung Quốc cũng chính là nguồn cảm hứng của nhiều người khi học tiếng Trung.

Còn bạn thì sao?

Xem thêm:

19 Th12

Rượu trong văn hóa Trung Hoa

Rượu trong văn hóa Trung Hoa
4 (80%) 1 vote

Nếu ai đã từng làm quen với những bộ lịch sử tiểu thuyết Trung Hoa như “Tam Quốc chí”, “Tây Hán chí”, “Thủy Hử truyện”… đều thấy rượu là thức uống hiện hữu trong nhiều biến cố quan trọng. Ðó là 1 trong những ẩm phẩm không thể thiếu của dân tộc này và tiếng tăm của 1 số thi nhân, nho sĩ cũng gắn liền với rượu như: Lý Bạch là người từng được mệnh danh là thi tiên, là tửu thánh và tục truyền ông say rượu nên nhảy xuống sông ôm bóng trăng chết đuối; Lưu Linh đời Tam Quốc cũng được sách vở nhắc đến nhiều với tài uống hàng trăm chén mà không say; vợ ông Tô Ðông Pha được tiếng là hiền đức cũng vì đã biết để dành 1 vò rượu ngon và đem ra đúng lúc ông chồng cần thù tạc với bạn bè trong 1 ngày giá rét; ngay trong các huyền thoại, không hiếm những tiên đồng ngọc nữ vì vô ý làm vỡ chén lưu ly của Ngọc Hoàng mà bị đày xuống trần, đủ nói lên rằng thượng giới cũng hay chè chén và vị chủ tể tất cả các cõi tiên, cõi tục kia coi việc uống rượu quan trọng hơn những công việc khác.

 

 

Văn chương Trung Hoa nhắc đến rượu khá nhiều nhưng tài liệu về rượu thì lại không có mấy. Lưu Dung trong “Ðường thi cú điển” đã liệt kê đến 79 bài thơ Ðường có nhắc đến rượu. Trong số đó có những bài nổi tiếng như: “Tương tiến tửu”, Nguyệt hạ độc chước” (Lý Bạch), “Tống biệt” (Vương Duy) trong đó thi nhân đã gắn liền rượu với thơ.
Chúng ta coi phim của Trung Quốc, nhất là phim cổ trang, chúng ta thấy nhân vật trong phim rất hay uống rượu, buồn uống rượu, vui uống rượu, ngồi nói chuyện với nhau cũng uống rượu, từ nam đền nữ đều uống rượu.

Các loại rượu nổi tiếng của Trung Quốc là Nữ nhi hồng, Ngũ gia bì, Trúc Diệp Tửu,… đó là những loại rượi mình thấy hay được nhắc đến nhất.  Người Trung Hoa có nhiều câu nói liên quan đến rượu như: “Tửu năng ích nhân, diệc năng tổn nhân.” (Rượu có thể có ích cũng có thể gây hại cho người).
“Trà lịnh nhân thanh, tửu lịnh nhân hôn.” (Trà khiến người ta sảng khoái, rượu khiến người ta mê muội).
“Tửu phùng tri kỷ, thiên bôi thiểu.” (Uống rượu cùng tri kỷ, ngàn ly vẫn còn ít).

Tào Tháo từng nói: “Hà dĩ giải ưu, duy hữu Đỗ Khang.” (Để giải ưu sầu, chỉ có Đỗ Khang), Tào Tháo ám chỉ Đỗ Khang là rượu, bởi vì Đỗ Khang là ông tổ nghề nấu rượu.
Lý Bạch từng nói: “Trừu đao đoạn thủy, thủy cánh lưu; tương tửu tiêu sầu, sầu cánh sầu.” (Rút đao chém nước, nước càng chảy; lấy rượu giải sầu, sầu càng sầu).
“Nam vô tửu như kỳ vô phong” (Trai tráng không uống rượu như lá cờ không có gió)

HỌC BỔNG DU HỌC TRUNG QUỐC 2019 TẠI THANHMAIHSKXEM CHI TIẾT