14 Th6

Phong tục đám ma của người Trung Quốc khiến nhiều người ngạc nhiên

Rate this post

Tìm hiểu những phong tục đám ma của người Trung Quốc khiến nhiều người bất ngờ và ngạc nhiên. Văn hóa của người Trung Quốc trong ma chay.

Hình ảnh Phong tục đám ma của người Trung Quốc khiến nhiều người ngạc nhiên 1

Trung Quốc là một đất nước có nền văn hóa sâu rộng và rất lâu đời chính vì vậy phong tục văn hóa chính là một trong những chủ đề thú vị khi tìm hiểu Trung Quốc. Trong đó phong tục đám ma của người Trung Quốc sẽ khiến nhiều bạn bất ngờ đó. Cùng tiếng Trung THANHMAIHSK tìm hiểu nhé!

Các hình thức mai táng của người Trung Quốc

– Thổ táng: là hình thức chôn cất người chết gắn với tộc người Hán.

– Thủy táng: gắn với những tộc người sống và sinh hoạt ở vùng song nước.

– Hỏa táng:còn gọi là hỏa hóa, là tục mai táng cổ xưa. Theo tài liệu khảo cổ tục hỏa táng đã có từ thời đồ đá mới.Người hán cho rằng đây là một hình thức mai táng quái dị. Ở Giang Nam từ thời Nam Tống bắt đầu chuộng cách mai táng này.

– Thiên táng: Gắn với tộc người Tây Tạng (vì là dân du mục nên họ không thể c hôn cất người chết ở 1 địa điểm cụ thể. Với họ, khi chim ó ăn xác người chết rồi bay lên nghĩa là người chết đã được lên thiên đàng).

– Huyền táng: Những tộc người sống ở vùng núi cai hiểm trở (họ quan niệm vách núi cao sẽ tách biệt vs nơi trần thế giúp người chết được yên nghỉ)

– Ngoài ra còn có thụ táng (là thiêu xác rồi chôn tro dưới gốc cây) và hỏa táng.

=>> Vì người Hán là chủ nhân văn hóa nên hình thức mai táng chính là hình thức thổ táng,

Tìm hiểu quy trình Tang ma và các đặc điểm tiêu biểu.

Quy trình nghi thức tang ma của người Trung Quốc

Với vị trí địa lý tự nhiên ở lưu vực sông Hoàng Hà và chủ thể văn hóa là người Hoa – Hạ, đã hình thành nên loại hình văn hóa nông nghiệp đặc trưng của Trung Quốc quốc cổ đại. Trong tư duy của người Trung Quốc cổ đại thì Hành thổ (tức Đất) được xem là trung tâm của trời đất, là cái nôi sinh ra vạn vật và sự tồn tại của loài người, cho nên khi sống con người dựa vào đất để khai hoang lập nghiệp để tồn tại, phát triển và khi chết con người lại trở về đất như là một sự tuần hoàn. Bởi vậy, thổ táng đã được người Trung Quốc sử dụng từ xưa cho đến nay như là một nghi thức không thể thiếu của vòng đời người. Theo các nhà sử học Trung Quốc (tham khảo sách Trung Quốc Văn Hóa Sử) thì phong tục tang ma của người Trung Quốc được cử hành theo 17 nghi thức sau:

Phủ liễm (đình thi): người chết được bỏ hết quần áo và đặt bên cửa sổ phía Nam rồi đắp một loại chăn liệm đặc chế.

Phục hồn (chiêu hồn): người nhà gọi hồn người chết bằng cách lấy áo cũ của người đã mất chạy ra cửa phía Bắc (đại diện cho u giới, thế giới linh hồn) gọi tên người chết “hãy quay về đi” 3 lần, sau đó đem áo này mặc lại cho người chết (mang hình thái tín ngưỡng cổ – níu kéo người chết).

Phụng thể phách tinh thần: Trang điểm cho thi thể (khiết sĩ), để tấm ván cố định ở chân để dễ đi giày (xuyết túc). Sau đó để cơm rượu ở phía đông, sát người chết để cúng quỷ thần.

Điếu Táng: Người thân và bạn bè đến viếng người chết phải khóc to và đưa chăn áo tặng cho người chết (còn gọi là tụy).

Vi minh: Làm một lá cờ (tùy theo thân phận, thứ cấp của người mất) trên viết tên người chết, cắm vào gậy trúc và đặt ở phía Tây trước nhà.

Trần tập sự cập hưu dục, phạn hàm chi cụ: Bày các dụng cụ dùng để tắm rửa, thay quần áo và độ phạn hàm cho người chết.

Hưu dục, phạn hàm, tập thi: Thay đồ, tắm rửa, phạn hàm, mặc ba bộ áo mới “tam xương” cho người chết.

Thiết trùng: khắc ván gỗ ghi tên người chết để tượng trưng cho linh hồn của người chết hay còn gọi là “trùng”.

Vu bốc trạch triệu, táng nhật: Thầy cúng chọn ngày (bằng cách bói mai rùa) và vị trí mộ. Gia chủ đưa đồ cúng ra nơi chôn cất làm lễ trước.

Ký tịch: Buổi tối trước khi hạ táng 2 ngày, chủ nhân lại ở trước linh cữu khóc một lần nữa và thông báo cho mọi người thời gian đưa ma.

Trần tiểu liễn cập điện tiểu liễn soạn: Đặt áo quần của người chết vào quan tài (do người thân tặng). Nam nữ phải bỏ hết trang sức và quấn tóc lên đầu. Đàn ông phải để lộ cánh tay và không ngừng dẫm chân khóc và đưa cơm rượu lên cúng cho người chết. Đêm hôm đó đốt đèn trong sân suốt đêm.

Đại liễm (nhập quan): Từ sáng sớm mọi người đem quần áo dùng cho đại liễm, cơm rượu cỗ cúng và quan tài đặt ở trong nhà. Gia chủ cùng người thần đích thân đặt thi hài người chết vào quan tài trong cảnh thương tiếc.

Thành phục: chủ nhân mặc áo tang và sau đó tiến hành cúng cơm cho người chết.

Chiêu tịch khốc điện: Khách đến viếng và chủ nhân đón tiếp khách trong trạng thái bi cảm khóc thương và khách động viên chủ nhân. Trước hôm an táng 1 ngày chủ nhân chuyên linh cữu đặt ở Tổ miếu và để trần 1 cánh tay vừa khóc vừa nhảy.

Hạ táng: sáng sớm chủ nhân bày cỗ cúng ra ngoài cửa cử hành lễ cúng và công bố lễ vật mọi người đem tặng cho người chết. Sau đó chủ nhân và khách cùng chuyển linh cữu ra mộ và hạ táng. Khi hạ huyệt, chủ nhân nam quay mặt về hướng Tây, chủ nhân nữ quay mặt về hướng đông (không được khóc). Sau khi lấp đất xong chủ nhân mới khóc và nhảy “dõng vô toán”.

Phản khóc cập ngu lễ: Chủ nhân và rước linh vị người chết quay về tổ miếu đặt trên tuẫn cung (linh đường) vừa khóc vừa nhảy (thể hiện sự đau buồn và an ủi người chết một lần nữa).

Phụ tế: đem thần chủ người mất đặt ở vị trí thích hợp trong tổ miếu để hưởng cúng lễ tổ tiên. Sau đó chuyển linh vị người chết về nhà thờ, hết 2 năm (mãn tang) mới được mang về tổ miếu thờ.

Trong sách Nghi lễ của người Trung Hoa do Bùi Quang Tiêu chủ biên (Bùi Quang Tiêu “Nghi Lễ của người Trung Hoa”. NXB. Thanh Hóa. 2007.) có đề cập đến 9 quy trình trong Tang ma của người Trung Quốc như sau:

Tống Chung: Tập quán dân gian của Trung Quốc cho rằng, phàm người nào sống đến 60 tuổi trở lên đã được coi là thọ, nếu chết đi thì được gọi là “Hỷ tang”, cũng là “bạch hỷ sự” . Đối với những người chết gia này, những người thân trong gia đình đã có chuẩn bị trước về mặt tâm lý cũng như phương diện vật chất.

Trước lúc người thân lâm chung, con cháu phải luôn ngày đêm túc trực bên cạnh trông coi, gọi là “Tống chung”. Lúc người thân sắp hấp hối, người trong gia đình dời người bệnh từ phòng ngủ ra trước giường ván đã được đặt sẵn ở chính đình. Người nam sẽ đặt ở chính tẩm, phía bên phải. Nếu là nữ đặt ở nội tẩm, ở bên trái. Phải dời người sắp chết ra trước chính đình, vì tục lệ cho rằng chính giữa nhà là nơi tốt nhất mà họ có thể yên lòng nhắm mắt. Người xưa tin rằng, nếu người ta chết trong giường ngủ của mình, thì linh hồn sẽ bị treo ở trên giường, không được siêu độ. Ngoài ra nếu người chưa thành niên mà chết yểu, tuy không được rời ra đặt ở chính đình, nhưng cũng phải dời họ đặt nằm ở dưới đất trước giường.

Tiếp đến là “Thụ hồn bạc”tức gần chân người chết sẽ phải cúng “Cơm dưới chân”, đốt giấy tiền vàng bạc và thắp nến, ấy là để họ có thức ăn và lộ phí

2.Sơ chung: Thi thể người chết được đặt nàm trên chiếc chiếu trong nội đường, đây gọi là “Hạ tháp”, nằm trên linh sáng. Phải đặt màn trướng ở ngoài. Tạm thời vẫn chưa lập linh vị. Lúc này thi thể phải nằm đầu hướng ra ngoài, ở dưới chân có đặt một chiếc đại hoặc chén bát nhỏ trong đó có đựng dầu để thắp bấc đèn. Đây gọi là ngọn đèn của người chết, gọi là “trường minh đăng”. Cách làm này dựa theo tập tục của dân tộc Trung Hoa, vì họ cho rằng làm như thế có thể tận trung chữ hiếu. Xưa có cách nói “Thọ chung chính tẩm”, tức là đặt thi thể trên linh sàng. Sau khi chính tẩm, người nhà sẽ phát giấy báo tang cho thân bằng quyến thuộc, đồng thời bàn bạc về việc lo hậu sự cho người chết.

Tiếp theo là “Phục lễ”, chiêu hồn. Người nhà sẽ lên mồ mả tổ tiên để gọi người chết hu vọng rằng “Phục lễ” gọi được hồn người chết trở về.

Tiếp đến là “Sơ khốc”, bắt đầu khóc than, xác nhận một điều rằng người thân của mình đã thực sự lìa khỏi trần thế. Đây là biểu hiện về nỗi đau thương.

3.Nhập liệm: Còn gọi là Trang liễm, đặt người chết vào trong quan mộc. Là thời gian chờ để đặt người chết vào quan tài. 3 ngày sau khi mất gọi là Tiểu Liễm, năm ngày là Đại liễm

Sau lễ nhập liệm là “thủ linh” còn được gọi là “Hộ lĩnh” lúc này con cái sẽ túc trực bên người chết để đợi đến khi nhập quan

4. Báo Tang: Báo tin nhà có người thân mất để cho họ hàng làng xóm biết và đến phúng viếng.

5. Thành phục: Con cháu trong nhà mặc đồ tang. Trung Quốc có lỗi nói “tuân lễ thành phục”. Chế độ ngũ phục truyền thống không chỉ được áp dụng trong mai táng mà còn là mục tiêu giới định về mối quan hệ gần xa của thân bằng quyến thuộc. Vào thời đại Chu Tần. nó đã cơ bản được định hình.

Khi người thân mất, việc đội tang phải theo một lễ chế nghiêm ngặt, không được có sự sai sót. Thành phục là một “Nghi lễ” cơ bản, tùy vào mối quan hệ với người chết mà mặc trang phục. Nhìn vào tang phục cỏ thể biết được mối quan hệ của người tang với người chết

Không chỉ giải thích rõ mối quan hệ nội bộ trong giới gia tộc mà nó còn quy định một cách thành tục về quyền lợi và nghĩa vụ giữa họ. Giả sử là cha con, ngũ phục thuộc loại “Trầm suy”, sử dụng loại vải thô nhất có viền lông, phục tang ba năm, đồng thời họ cũng là người có quyền thừa kế di sản của người chết. Do các mối quan hệ là rất rộng lớn nên phục tang cũng rất phức tạp, vừa tinh tế mà phải tỉ mỉ.

6. Phúng điếu: Khổng Tử nói : “Tang chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ” nghĩa là khi có tang lễ ở mỗi gia đình, phúng điếu cũng được xem là nội dung quan trọng. Lễ số và phương thức phúng điếu cũng có nhiều khác biệt.

Tất cả những người chí thân khi vừa nhận được cáo phó, phải kịp thời đến với tang gia ngay. Những người thân thuộc loại “Trảm suy” như con trai, con dâu, con gái, con rể,.. sẽ gác mọi công việc nhà lại, vội vàng đi bôn tang. Khi gần đến tang gia phải “Vọng hương nhị ca”, tức là khóc thương thảm thiết. Người con gái đã lấy chồng vừa đi vừa phải khóc trên đường, đến nơi phải quỳ khấu trước linh đường mà khóc than đợi khi có người đến an ủi mới được ngưng khóc. Những thành viên khác trong thân tộc có mối quan hệ gần gũi thân thiết, tuy không đau thương bằng con cái của người chết, nhưng cũng phải biểu hiện rõ nỗi buồn thương cực độ của mình.

Khi thân bằng quyến thuộc đến phúng điếu, người đội tang chí thân nhất phải đến quỳ bái mà nghênh tiếp rồi mới về hầu cạnh linh đường, lúc đó cũng kèm theo nghi trượng cổ nhạc. Người đến phúng điếu, trước tiên khấu đầu 4 lần trước linh cữu, sau khi tang gia trả lễ xong đến trước phòng giao lễ. Ở một số nơi nếu người phúng điếu không phải là người chí thân của người chết hoặc trưởng bối của người chết thì chỉ cần đốt vài tờ tiền giấy trước linh đường là được.

Thân hữu đến phúng điếu phải mang theo lễ phẩm hay lễ kim. Lễ phẩm gốm biển ngạch, văn liên, hương chúc, giấy tiền… và đó cũng có thể là tấm văn chương. Bất luận chất liệu vải của văn chương như thế nào, màu của nó nhất thiết phải là xanh, xanh lam hay màu trắng, phía trên có dòng chữ trắng sáng “Anh oanh thiên cổ”, …

Nếu lễ vật là ngân kim phải dùng giấy màu vàng hay xanh lam bao gói kỹ càng, ghi rõ số lượng. Hầu hết bây giờ đều là đưa trực tiếp cho tang chủ để tránh sự sai sót.

7. Tiếp Tam: Truyền thuyết dân gian xưa cho rằng, sau khi chết được 3 ngày, linh hồn sẽ chính thức xuống địa phủ. Cũng có thể sẽ được thần, Phật hay sứ giả của thần Phật là Kim Đồng Ngọc Nữ đón đi. Ai cũng đều muốn người thân của mình sẽ được lên trời, nhưng muốn được như vậy thì lúc còn sống họ phải tích nhiều công đức.

Nhưng dân gian cho rằng, sau khi chết qua 3 ngày, khi linh hồn của họ đã rời khỏi xác, mời Tăng nhân đến làm lễ tụng kinh sám hối, tích đức chuộc tội, người chết sẽ được lên thiên đàng. Do vậy đã hình thành phong tục “Tiếp tam”, con cái của người chết mong muốn đưa người thân lên Tây thiên, do vậy còn được gọi là “Tống tam” hay “Nghênh tam.” Muốn đưa người thân lên Tây thiên tất nhiên phải cần có xe, ngựa. Những thứ này được làm bằng giấy, tục gọi là “Bảo mã tố xa”, có nơi làm rất công phu. Ngoài ra còn có tủ rương để đựng hành trang và những vật dụng khác.

Thời giờ làm lễ tống tam thường là vào lúc chiều tối, Tăng chúng niệm kinh lễ Phật, có người cổ nhạc hát theo, đồng thời cũng còn có hàng loạt những tục nghi khác. Sau đó ngựa xe sẽ được con cái của người chết đưa ra cửa, đem đốt ở một địa điểm hướng tây của ngôi nhà.

8. Phát dẫn: Phát dẫn, hạ tang là nghi tục khi tang lễ sắp kết thúc. Theo tục lệ cổ xưa, nếu tang lễ quá dài, thi thể sẽ không được bảo tồn cho đến lúc chôn, người sống cũng sẽ rất vất vả lo toan tất bật. Do vậy xuất hiện các lễ “Khát táng”, “Huyết táng”, tức nội trong 7 ngày phải đem đi chôn. Kỳ hạn ngừng tang cụ thể không giống nhau, nó liên quan đến địa vị xã hội, kinh tế, chính trị,..,Mọi người sẽ dải tiền vàng, nhất là lúc qua cầu, qua đường như lộ phí để đi đường.

9. Cư tang: Bản chất của việc cư tang là sự hiếu đạo là thân tình của người thân với người đã khuất. Trong khoảng thời gian người thân mất, con cháu phải ngừng lại các mặt sinh hoạt bình thường để thể hiện nỗi bi thương, tư niệm người quá cố. Truyền thống xưa quan niệm rằng: lúc mới sinh ra, con cháu ba năm đầu luôn trong vòng tay ôm ấp của cha mẹ, được chăm súc, mớm bú,.. Do vậy khi cha mẹ mất đi, phải báo hiếu 3 năm. Với những người làm quan tại triều đình, họ sẽ được nghỉ phép dài hạn để về nhà cư tang khi cha mẹ mất.

Như vậy, sau khi an táng xong, người Trung Quốc có phong tục để tang cho người đã khuất, tùy theo mối quan hệ thân sơ, từ 1 tháng cho đến 3 năm. Trong vòng thời gian để tang người sống tiếp tục thực hiện một số nghi thức khác tùy theo quan niệm của từng thời kỳ hay ảnh hưởng của các tôn giáo như: Đời Thương mở đầu hình thức tuẫn táng (chôn người sống theo); đời Hán, Tấn, Nam Bắc Triều đã lưu hành tiền giấy, đốt nhà giấy, hòm giấy; khi Phật giáo du nhập vào thì hình thành nghi thức cúng Trai thất, Chung thất; hay các phong tục cúng khác như: cúng 100 ngày, tiểu tường (giỗ đầu), Đại tường (hết tang)…

Một số đặc điểm tiêu biểu trong may chay của người Trung Quốc

Về Tang phục:

Phong tục đám ma của người Hoa trong kho tàng văn hóa Trung Quốc có quan niệm về trang phục và màu sắc để thể hiện từng bối cảnh, ý nghĩa khác nhau. Đối với Tang ma ở Trung Quốc có 5 loại và mỗi loại có các hình thức khác nhau để biểu thị mối quan hệ giữa người đã khuất với người còn sống như sau:

– Trảm thôi (đại tang – Tang 3 năm): là loại cao nhất trong tang phục, với chất liệu là vải gai thô, không khâu mép vải để lộ chỗ chém đứt để may áo; dùng “tư điệt” (dây lưng bằng gai thô) quấn chặt phần dưới thân; tay cầm “trượng khốc tang bồng” (gậy bằng trúc không cạo vỏ – biểu thị đau thương không thể đứng thẳng phải dùng gậy chống); chân đi giày cỏ “gian cục” và đầu đội “quan thằng anh” (loại mũ dùng dây gai quấn lại). Người mặc trảm thôi trong 3 năm để chịu tang thì được xem là “hiếu tử”. Sách Thanh hội quy định: “Trảm thôi chủ yếu dùng để con trai, con gái và con dâu mặc để chịu tang cha mẹ. Nếu không có con trai thì cháu hoặc chắt đích tôn phải thay hoặc vợ và thiếp để tang cho chồng”.

– Tư thôi (cơ niên – tang 1 năm có chống gậy): Dùng vải gai thô nhưng viền mép đều và chống gậy trúc cạo nhẵn, hạn dùng trong 1 năm.

– Đại công (tang 9 tháng): Vải gai mịn đã qua gia công, màu ngà, hạn mặc trong vòng 9 tháng.

– Tiểu công (tang 5 tháng): vải gai mịn hơn, màu trắng, hạn mặc trong 5 tháng, là tang phục của anh em trai.

– Ti ma (tang 3 tháng): may bằng vải tinh chế màu trắng, hạn mặc trong 3 tháng (loại nhẹ nhất trong ngũ tang phục).

Thời hạn để tang đối với những người có quan hệ gần được quy định như sau:

Tang phục cũng có sự thay đổi không ngừng trong các triều đại Phong kiến và có sự phân biệt tầng lớp, xa gần. Tuy nhiên đều lấy màu trắng là màu chủ đạo và thể hiện lễ chế tông pháp “trọng nam, trọng đích”.

Phong tục tuẫn táng và đồ tùy táng

Kinh dịch Nho giáo cho biết về thời thượng cổ người chết cứ để vậy đem chôn, không biết đến phần mộ, quan quách. Trải qua các triều đại, việc chôn cất và mai táng người chết có nhiều hình thức. Đáng kể nhất là đời nhà Chu (1.122 trước Tây lịch) có một duy định khi họ chết đi thì tất cả những vật dụng quý giá của họ khi còn sống kể cả thê thiếp, thuộc hạ được sủng ái cũng đều phải chôn theo. Về sau tục lệ vô nhân đạo này đã được bãi bỏ để thay vào đó là Sô linh (người bện bằng cỏ). Năm Nguyên Hưng nguyên niên (105) đời Hán Hoa, ông Thái Lĩnh tìm ra được cách làm giấy bằng vỏ cây dó, giẻ rách… Bắt đầu từ khi có giấy, ông Vương Dũ nghĩ đến việc biến chế vàng bạc, áo quần… bằng giấy thay cho đồ thật để đốt đi sau khi cúng kính.

Theo nhà tư tưởng Vương Dư đời Đường cho rằng: “Từ thời nhà Hán, đã có tục chôn tiền và đời sau lấy giấy thay tiền”. Theo niềm tin thuần phác của người Trung Hoa ở vào thời cổ đại thì, người ta tin rằng, người chết không phải là mất hẳn mà biến thành quỉ (nhân tử viết quỉ – Nguyễn Tôn Nhan, Kinh Lễ, Thiên Tế pháp, NXB. Văn Học, 1999, tr.192 ). “Quan niệm nhân tử viết quỉ” được hình thành từ thời Ngũ đại (khoảng hơn 2000 năm trước Tây lịch) Từ quan niệm này, người ta tin rằng, người chết cũng như người sống, tức sự sinh như sự tử. Những gì mà người ta lúc còn sống tiêu xài như thế nào, thì khi chết cũng cần đến như thế đó. Do tin tưởng như vậy, nên sau khi chết đi, thân nhân của người chết họ chôn theo những vật dụng cần thiết kể cả tiền bạc để cho người chết tiêu xài. Đây là họ biểu lộ mối thâm tình sâu đậm khi sống sao thì lúc chết cũng như thế.

Theo các nhà khảo cổ, họ đã khám phá từ những cuộc khai quật và đã xác quyết điều này. Nhưng về sau, người ta thấy rằng, việc chôn theo các đồ vật dụng và tiền bạc thiệt, thì quá lãng phí, cho nên dần dần người ta mới bày ra cách sử dụng những đồ vật dụng và tiền bạc làm đồ giả, giấy giả, để cho người chết tiêu xài.

Giải mã biểu tượng và các kiêng kỵ cần biết

  1. Giải mã một số biểu tượng

Phương Đông với đặc trưng tư duy tổng hợp biện chứng nên đã sáng tạo ra một kho tàng văn hóa mang ý nghĩa biểu tượng. Để hiểu được ý nghĩa của các biểu tượng đó người nghiên cứu cũng cần phải có kiến thức tổng hợp và đặt nó trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Tang ma là một nghi thức phản ánh thế giới tâm linh của con người sau khi chết, (một thế giới không thể nhìn và nhận biết bằng các giác quan của con người) cho nên các biểu tượng của nó cũng mang ý nghĩa tượng trưng rất cao và có nhiều quan niệm khác nhau. Để hiểu được những biểu tượng tiêu biểu trong phong tục tang ma của Trung Quốc có thể đưa ra các giả thiết sau:

Đốt ba cây nhang, cúng tế điệu niệm: Đốt nhang, bày 1 số trái cây hay những thứ mà lúc còn sống người thân thích ăn, gọi là vật cúng lễ. Đây là một phương thức mà con cháu gửi gắm lòng thương nhớ của mình đối với người đã quá cố.

Tế điện:Tế điện là hình thức dâng những lễ vật, hoa quả đồ ăn, tiền vàng cho người đã mất. Cùng với đó là tuyên đọc tế văn. Đây là một hoạt động trong ngày tiết thanh minh hay trong ngày giỗ của người quá cố.

Lấy áo người chết lên sân thượng hú 3 lần: Vì đã có những trường hợp bị choáng, ngất, bất tỉnh nhân sự. Người ta dùng mọi thủ thuật để kích thích thì hồi tỉnh, trong đó có thuật hú hồn hú vía. Cũng có trường hợp đã tắt thở, tưởng là đã chết rồi nhưng sau một thời gian bỗng nhiên sống lại. Do đó với một hy vọng dầu mỏng manh, mặc dầu trong muôn một, người sống tiếc thương muốn cứu vãn… nên cầm chiếc áo quần của người đã tắt thở, leo lên mái nhà chỗ cao nhất hú “Ba hồn bảy vía ông…” hoặc “Ba hồn chín vía bà…” về nhập xác. Hú ba lần không được mới làm lễ khâm liệm, như vậy hồn đỡ vất vưởng, biết tìm đường về nhà nhận xác.

Màu trắng trong tang phục: dùng màu trắng là màu của phương Tây theo Ngũ hành. Mọi thứ liên quan đến phương Tây đều được xem là xấu. Cho nên nơi để mồ mả của người xưa thường là hướng Tây của nhà. Cũng có quan niệm, màu trắng là màu của nước vào mùa đông (băng) thể hiện sự lạnh lẽo, buồn cảm, bi ai…

Huyệt hình vuông, mộ hình tròn: thể hiện quan niệm “trời tròn đất vuông” của người xưa và chết là trở về với mẹ đất và tiếp tục sống ở thế giới khác.

Đèn 7 ngọn và 9 ngọn: thể hiện tư duy hồn xác của Phương Đông. Nam có 3 hồn 7 vía nên thắp 7 ngọn đèn, Nữ có 3 hồn 9 vía nên thắp 9 ngọn đèn tượng trưng.

Lễ 2 lễ và 4 lễ: khi chưa hạ huyệt thân chủ chỉ lễ hai lễ như người thân vẫn còn sống (hồn, xác) và khi đã an táng xong thì thường lễ 4 lễ (Sinh, lão, bệnh, tử).

Hình nhân thế mạng: từ hình thức tuẫn táng quá dã man, con người đời sau đã sáng chế ra các hình người bằng đất nung, bằng giấy…để tống táng cùng người chết vừa mang tính nhân đạo vừa đỡ tốn kém, lãng phí.

Giấy bản, chè búp, hoa nhài, lá chuối…rắc ở trong quan tài: Các thứ đó đều là những chất hút ẩm và ngăn giữ khí hôi hám khỏi bốc ra ngoài, nhất là thời xưa chết xong chưa mấy ai đã chôn ngay, còn phải sắm đủ lễ vật, tế khí, còn phải xa gần phúng viếng linh đình, còn phải chọn ngày, chọn đất mới làm lễ an táng.

Cúng 7, 49, 100 ngày: Phương Đông quan niệm, chết không phải đi đâu, không phải mất mà về cõi cực lạc (sinh ký tử quy). Nếu chưa được về cõi đó thì đi đầu thai qua kiếp khác (chuyển kiếp). Người chết hồn đi lang thanh nhưng không tự kiếm được thức ăn mà phải nương ở gia đình thân nhân thờ cúng. Chết được 3 ngày được gọi là ngu tế (cúng cơm 3 ngày) mang tư tưởng âm dương biến hóa. Cúng bảy ngày là do quan niệm con người có 7 cơ quan để hấp thụ vật chất, tinh thần mà trưởng thành, cúng tuần 1 là giải 1 vía, muốn giải 7 vía phải cúng trong 7 tuần tức 49 ngày (chung thất – hết 7 tuần). Cúng hết 7 tuần là người mất qua được 7 cửa cung cõi âm. Cúng 100 ngày để qua cửa thứ 8, cúng tiểu tường qua cửa số 9 và đại tường là qua cửa số 10 (quan niệm về 10 tầng địa ngục mà người chết phải đi qua). Đến đây thì hồn được chuyển luân hoặc siêu thăng hoặc đầu thai kiếp khác. Con số 7 còn chỉ vào các ngôi sao (các vị tinh quân): mặt trời, mặt trăng, kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, mỗi cung gồm 7 bộ (tức 49). Như vậy số 49 là số đại diện bao hàm cả lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái của đại vũ trụ (thế giới) và tiểu vũ trụ (con người).

Chỉnh tu lăng mộ: Thường là việc bồi đất và chỉnh tu mộ đạo. Do chịu mưa nắng, gió bão nên cần phải tu sửa. Trước kia chỉ có chôn cất chứ không có hỏa táng.

Trên đây là các loại hình biểu tượng tiêu biểu, ngoài ra trong phong tục tang ma ở Trung Quốc còn có nhiều biểu tượng khác tùy theo phong tục và quan niệm của từng thời kỳ cho nên không thể lược ra hết. Mỗi biểu tượng đều có ý nghĩa của nó và phản ánh rõ nét quan niệm về một thế giới bên kia là có thật của người xưa.

2. Một số điều cần biết trong tang ma

Từ xưa, người Á Đông luôn có con mắt tinh tường trong quá trình tiếp xúc, ứng xử với môi trường xung quanh, nhờ đó đã đúc kết bao nhiêu kinh nghiệm về thế giới tự nhiên, kinh nghiêm sống, lao động và cả những kinh nghiệm sau khi chết. Tiêu biểu như:

– Cắm một cái cọc bằng kim loại suốt chân giường người chết hoặc để con dao trên đầu (bụng) người chết để trừ ma quỷ quấy phá.

– Khi chưa nhập quan, luôn luôn thắp hương nến (nếu không có nến thì thắp ngọn đèn dầu) cho đến khi hạ huyệt không để tắt hương đèn để xua đuổi tà khí.

– Hai bên hương án, phía gần kề áo quan, người ta đặt hai cây chuối con để trừ tà khí.

– Dựng bó đuốc to ở giữa sân vào ban đêm trước lễ an táng (nếu để qua đêm), con cháu và thân nhân túc trực quanh linh cữu (lễ “Chúc thực” ban đêm, nghĩa là “lễ trồng bó đuốc”) để xua đuổi tà ma (quan niệm ma sợ lửa).

– Khi thi thể co cứng lại thì cần hơ lửa và nắn hoặc dùng cồn, rượu xoa bóp, nếu vẫn còn cứng lại thì có thuật dùng hai chiếc đũa cả để hai bên mép áo quan rồi cho thi hài lọt xuống dần, khi thi hài dã lọt vào áo quan rồi thì phải cắt bỏ những dây buộc chân, buộc tay, buộc vai, buộc mông để người chết có thể nằm thoải mái.

– Sau lễ nhập quan phải đốt lỗ hung (lỗ đào ở chính giữa giường người mới chết nằm khi chưa nhập quan. Chất đốt có thể dùng trấu, than , củi hoặc giẻ rách…). Dùng khói lửa, ánh sáng mặt trời (đốt hương, nến, đèn, đuốc, than, trấu, dỡ mái nhà, mở rộng cửa, đào lỗ hung, đốt pháo…) để triệt tiêu hơi lạnh.

Đối với những ngôi mộ không có tử thi, hài cốt, mộ người chết trận, chết đuối hay do thú dữ vồ… không tìm được tử thi. Thân nhân làm hình nhân và làm lễ “Chiêu hồn nạp táng” an táng theo như lễ an táng thông thường. Dùng gỗ hoặc đất sét gọt đẽo nhào nặn thành hình người kích thước của hình nhân khoảng 30-40 cm chiều dài. Thi hài tượng trưng đó cũng được khâm liệm, đưa vào áo quan làm bằng gỗ vàng tâm, hoặc đưa vào tiểu sành. Trên hình nhân có phủ lên linh vị viết trên giấy kim tuyến, nội dung giống như linh vị đặt ở bàn thờ. Trước khi làm lễ an táng có mời thầy cúng làm bùa ấn phù phépđể vong hồn nhập vào hình nhân.

Đối với những người đến dự lễ tang, nhất dự khâm liệm cần có những phương thuật để phòng chống hơi lạnh như ngậm gừng sống, uống nước lá nhót, ăn trầu và xông khói vỏ bưởi, bồ kết trước và sau khi đến lễ tang.

Một số điều kiêng kỵ trong Đám tang

Nghĩa tử là nghĩa tận, cho nên người phương Đông rất coi trọng chuyện tổ chức tang lễ. Khi gia đình có tang hoặc đi dự đám tang, chúng ta cần tìm hiểu một số điều kiêng kỵ trong tang ma theo quan niệm của người Phương Đông như sau:

Kỵ để người đã khuất ở trần: Người phương Đông thường rất kĩ tính trong nghi thức khâm liệm. Gia đình phải chuẩn bị sẵn quần áo đẹp cho người mất, kỵ để người đã khuất ở trần trong đám tang. Thường thì người già đến một tuổi nào đó hoặc sức khỏe yếu sẽ dặn dò con cháu chuẩn bị sẵn áo liệm. Áo liệm thường được chuẩn bị theo số lẻ: 3 cái, 5 cái, 7 cái… Vì theo quan niệm dân gian, số chẵn sẽ làm tai họa ập đến gia đình một lần nữa. Áo liệm được làm bằng lụa, kỵ dùng vải gấm hoặc sa tanh với mong muốn ban phúc cho con cháu. Đặc biệt, áo liệm không được làm từ da và lông do quan niệm rằng, nếu để người đã khuất mặc áo liệm bằng da và lông thì kiếp sau sẽ đầu thai thành động vật.

Kiêng để chó, mèo nhảy qua xác người chết: Trong đám tang, thi thi hài chưa được đặt vào quan, người thân thường phải cử nhau coi giữ ngày đêm. Ngoài mục đích để thể hiện lòng thương tiếc thì điều này còn nhằm tránh chó mèo nhảy qua xác người mất, tránh hiện tượng quỷ nhập tràng (tức là người chết bật dậy để bắt người).

Kiêng để nước mắt nhỏ vào thi hài người chết: Từ xa xưa người Phương Đông cho rằng trong quá trình khâm liệm, con cháu dù thương tiếc đến đâu cũng không được để nước mắt nhỏ vào thi hài người chết để tránh người đã khuất lưu luyến, ra đi không thanh thản. Người trực tiếp thực hiện cũng không được khóc khi đang tiến hành các thao tác khâm liệm. Do đó, tại một số gia đình, trong đám tang việc khâm liệm người chết không được giao cho vợ, chồng hoặc con cái người đã khuất làm.

Kỵ dùng gỗ cây liễu để làm quan tài: Bởi cây liễu không có hạt, sợ đời sau không có người nối dõi. Chất liệu tốt nhất để làm quan tài là gỗ cây tùng hoặc cây bách.

Chọn ngày tổ chức đám tang và vị trí chôn cất: Thông thường, trong quan niệm của người Trung Quốc, khi có người mất phải xem ngày, xem giờ và vị trí chôn cất để tránh những điều không may xảy ra. Vị trí của mộ tốt hay xấu có thể ảnh hưởng đến con cháu đời sau. Có một số điều kiêng kỵ khi chọn vị trí chôn cất như: Không được chôn cất ở nơi có tảng đá lớn, không chôn cất ở nơi có bãi cát và nước chảy xiết, không chôn cất ở kênh rạch và nơi hoang vắng, không chôn trên đỉnh núi cô độc, không chôn xung quanh đền, chùa, miếu, không chôn gần nhà tù, không chôn nơi đồi núi hỗn loạn, không chôn nơi phong cảnh u sầu, không chôn nơi ẩm ướt hoặc địa hình không ổn định…

Kiêng đi nhanh khi khiêng linh cữu: Người xưa quan niệm phải làm sao giữ cho thi hài của người chết được nằm yên, cho nên khi khiêng linh cữu cần phải nhẹ nhàng, cẩn thận. Thậm chí, những người khiêng linh cữu phải cố tình đi thật chậm để thể hiện sự lưu luyến với người đã khuất.

Cấm kỵ sau khi hạ huyệt: Sau khi hạ huyệt người đã khuất, những người đưa tang khi ra về cần tuyệt đối tránh quay đầu lại. Bởi theo quan niệm dân gian, nếu người đi đưa tang quay đầu lại linh hồn người đã khuất theo người sống về nhà.

Kiêng kỵ khi thờ người mới chết: Sau đám tang, những người mới chết thường kiêng không thờ chung tại bàn thờ gia tiên mà lập một bàn thờ riêng chỉ gồm một bát hương, một bộ đài, một vài lọ hoa, bài vị và ảnh thờ. Lập bàn thờ riêng này nhằm thuận tiện cho việc cúng bái hàng ngày và hàng tuần từ sơ thất đến thất thất. Mặt khác, theo quan niệm xưa thì người mới mất thân thể chưa bị phân hủy nên không thờ chung ở bàn thờ tổ tiên.

Tránh đi thăm bạn bè họ hàng trong thời gian để tang: Gia đình có đám tang thường là biểu hiện của điềm không may, vì vậy người trong nhà nên tránh đi thăm bạn bè họ hàng trong thời gian để tang. Đặc biệt trong những ngày Tết, vợ chồng con cái của người mới mất nên hạn chế đi chúc tết, đặc biệt kiêng đến những gia đình có người bị bệnh.

Kiêng động cuốc, thuổng vào mộ trong vòng cư tang: Sau đám tang ba ngày, người ta sẽ đắp mộ kỹ lưỡng trong khi làm lễ mở cửa mả. Sau lễ này, kiêng không đắp mộ, động cuốc hoặc động thuổng trong vòng tang. Tục lệ này là để tránh mồ mả bị sập, bị động trong thời gian áo quan và thi hài đang tan rữa. Con cháu khi đến mộ thắp hương chỉ được lấy đất đắp vào những chỗ sụt lở, kiêng trèo lên mộ hay động cuốc thuổng vào mộ.

Kiêng lấy vợ, lấy chồng khi đang để tang cha mẹ: Việc để tang, kiêng lấy vợ hoặc chồng trong thời gian gia đình có tang nhằm tỏ lòng kính trọng, thương tiếc người đã khuất. Thời gian để tang theo quan niệm xưa là 3 năm. Nhưng ngày nay, việc kiêng cữ không còn kỹ lưỡng như trước. Một số gia đình có thể lấy vợ, gả chồng cho con sau giỗ đầu.

Kiêng để ánh sáng mặt trời soi trực tiếp khi cải táng: Thông thường, các gia đình thường xem ngày, giờ để cải táng (sang cát). Việc cải táng luôn được thực hiện về đêm để tránh ánh sáng mặt trời vì có nhiều trường hợp thi thể sau nhiều năm vẫn còn nguyên vẹn, nếu để ánh sáng mặt trời chiếu vào, thi thể sẽ rữa ngay và teo lại.

Trên đây là 12 điều kiêng kỵ trong đám tang theo quan niệm của người xưa. Mặc dù nhiều điều không hoàn toàn đúng theo cách nhìn nhận khoa học biện chứng, nhưng vì tang lễ là một hoạt động tâm linh nên chúng ta cần hiểu và tôn trọng, tránh những hành động bất kính trong đám tang. Ngoài ra còn nhiều hình thức kiêng kỵ và phong tục rườm rà khác mang màu sắc tâm linh huyền bí đã được người phương Đông sử dụng như một hình thức để người còn sống được bình an và người mất cũng được phần mát mẻ.

Ảnh hưởng của phong tục tang ma ở Trung Quốc và các nước lân cận

Có thể nói trong suốt chiều dài lịch sử của Trung Quốc trải qua các thời đại phong kiến, những thăng trầm, biến đổi trong lịch sử, nhưng trong văn hóa tang ma của người Trung Quốc vẫn giữ được bản sắc của nó. Ngoài hình thức thổ táng của văn hóa Hán ra, còn có nhiều hình thức an táng khác như:

Thủy táng hay thuyền táng…: Chủ yếu là các dân tộc vùng sông Trường Giang, phía Nam Trung Quốc. Do môi trường sông nước, thế nước ngập và quan niệm sống nhờ nước và chết về với nước.

Hỏa táng: phổ biến ở vùng đất phía Tây của Trung Quốc do ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, cụ thể là ảnh hưởng Hỏa giáo – một phong tục thờ lửa cổ xưa của Ấn Độ. Quan niệm lửa luôn bốc lên trên (tức thiên đường), cho nên khi hỏa táng người mất sẽ nhanh được lên thiên giới.

Không táng: Đây là hình thức an táng do cư dân ở vùng núi cao, gần các vách núi sáng tạo ra, là hình thức để người chết tại các hang đá hay treo lơ lửng trên các cây cao để xác chết tự phân hủy hoặc khô cứng lại.

Điểu táng hay Lâm táng: là hình thức an táng của người Tây Tạng và một số tộc người thuộc vùng núi có địa thế hiểm trở, chất đất cứng cho nên khó có thể đào hố để chôn và trong tâm thức của họ bởi ảnh hưởng của Phật giáo xem xác thân này chỉ là giả tạm, có hợp có tan không nên cố chấp. Cho nên họ chết một cách thoải mái và được các vị Thầy của họ hướng dẫn đi đầu thai ở các kiếp khác còn thân xác thì bố thí cho các con kền kền hoặc hổ beo…

Qua quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa cả mặt cưỡng bức và tự nguyện, phong tục Tang ma nói riêng và nhiều nét văn hóa khác của Trung Quốc nói chung đã có tầm ảnh hưởng lớn đối với văn hóa phong tục của các nước lân bang như: Việt Nam, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản… Về cơ bản, trong nghi thức Tang ma hiện nay ở những nước ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc vẫn duy trì 6 hình thức cơ bản:

Lễ Mộc Dục : Tắm gội và mặc quần áo mới cho người chết.
Lễ phạm hàm : Bỏ gạo và tiền vào trong mồm người chết để tránh tà ma đến cướp đoạt, tiễn vong hồn người chết đi đường xa không bị đói.
Lễ Khâm Liệm (nhập quan) : Đưa thi thể vào quan tài.
Lễ thiết linh : Đặt linh vị lên bàn thờ tang và bày các cỗ cúng.
Lễ thành phục : Nhận khăn và trao lại cho con cháu
Lễ an táng : Sau khi hoàn tất việc phúng viếng thì tiến hành di dời quan tài tới nơi chôn cất và an táng.
Ngoài 6 hình thức trên, sau khi an táng một số nước vẫn duy trì các hình thức khác như: mở cửa mả, cúng thất, cúng 49 ngày (chung thất), cúng 100 ngày (bách nhật), cúng giỗ đầu (tiểu tường), cúng mãn tang (đại tường) và các kỳ cúng giổ hằng năm. Tùy theo phong tục và các quan niệm không giống nhau mà có những điều kiêng kỵ khác nhau.

Về cơ bản, các nước chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc đều có chung cùng một quan điểm về thế giới tâm linh “chết là không hết” mà trở về với tổ tiên hoặc đi chuyển kiếp khác và người mất vẫn có mối liên hệ với người sống cho nên trong nghi thức tang ma cần phải tuân thủ các quy tắc, các điều kiêng kỵ . Nhưng ở mỗi nền văn hóa lại có sự sáng tạo mang tính đặc trưng riêng khác với văn hóa tang ma cổ truyền Trung Quốc như ở Việt Nam có phong tục cúng bát cơm quả trứng (bát cơm thể hiện đất, đũa bông là cây vũ trụ hay còn gọi là trời và quả trứng thể hiện cho tư duy phồn thực mong muốn sự sinh sôi nảy nở hay chuyển kiếp của người đã khuất); phong tục để 2 cây chuối ở hai bên linh sàng để đẩy tà khí hay để lá bài tổ tôm trong quan tài để xua đuổi thần trùng, bảo vệ người chết… Sự khác biệt này là do sự thích nghi của con người với môi trường của từng vùng miền và sự nhìn nhận khách quan về thế giới bên kia. Nhưng vì câu nệ vào tục Tàu nên các nghi thức trở thành rườm rà, tốn kém, trọng hình thức mà giả tạo.

Tang ma ngày nay còn có sự đa dạng hóa về loại hình, nếu xưa kia ở Trung Quốc xem Thổ táng là hình thức phổ biến thì ngày nay có nhiều hình thức tang ma khác như: Thủy táng, không táng…và nhất là Hỏa táng. Mỗi hình thức lại có những đặc trưng tang ma tương đối khác nhau, nó cũng thể hiện quá trình giao lưu tiếp biến không ngừng của văn hóa trong tang ma và quan niệm về cái chết hay thế giới bên kia từng thời đại.

Ngày nay phong tục ma chay của người Trung Quốc được tổ chức gọn gàng hơn: Hồn bạch, thể kì, minh tinh được thay bằng tấm ảnh chân dung người chết, Linh cữu được chở bằng xe hơi. Nhiều nghi thức, hủ tục bị xoá bỏ (thương vay khóc mướn, lăn đường, cờ quạt rầm rộ, kèn trống ầm ỹ). Tục đốt vàng mã vẫn còn, thậm chí còn gia tăng ở một vài nơi (Đua nhau vén tay áo sô đốt nhà táng giấy, đốt xe hơi, tủ lạnh, giấy tiền đô la…) Thời hạn để tang được rút ngắn. Mồ mả xây đắp cẩn thận hơn, không cần phải cải táng. Nhiều gia đình cho thiêu xác, giữ tro để thờ tại chùa…

(anhdaotamduong.wordpress.com)

Xem thêm:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

LỊCH KHAI GIẢNG CHI TIẾT CÁC KHÓA TIẾNG TRUNG TRONG THÁNG 8/2018XEM CHI TIẾT
hotline