13 Th8

Các món lẩu Trung Quốc ngon nức tiếng

Hình ảnh Các món lẩu Trung Quốc ngon nức tiếng, nghe là thèm 1
Rate this post

Tổng hợp các món lẩu Trung Quốc ngon nức tiếng, đã đến Trung Quốc thì nhất định phải thử. Các món lẩu ngon của Trung Quốc nghe là thèm.

Nền văn hóa ẩm thực của Trung Quốc luôn khiến mọi người phải trầm trồ và khen gợi. Đặc biệt khi nhắc đến Trung Quốc không thể thiếu món lẩu. Mỗi vùng có những món lẩu đặc trưng riêng có, và trung tâm THANHMAIHSK xin giới thiệu với các bạn các món lẩu Trung Quốc ngon nức tiếng nhé!

Các món lẩu ngon của Trung Quốc

Lẩu Tứ Xuyên

Món ăn dân gian này bắt nguồn tại các bến cảng vùng Trường Giang vào đầu triều Thanh. Nó nhanh chóng được các thuyền viên yêu thích bởi sự tiện lợi, dễ làm và khả năng làm ấm cơ thể hiệu quả. Nồi lẩu Tứ Xuyên thường được phục vụ trong loại nồi hai ngăn. Một ngăn có chứa nhiều gia vị cay nóng, ngăn còn lại thì không cay để phù hợp với khẩu vị của khách và trung hoà bớt vị cay. Tuy nhiên cũng có những nồi lẩu có đến 9 ngăn.

hinh-anh-cac-mon-lau-trung-quoc-ngon-nuc-tieng-1

Lẩu Tứ Xuyên có hai loại, một là lẩu Thành Đô, hai là lẩu Trùng Khánh, cả hai loại thoạt nhìn thì rất khó phân biệt với nồi nước dùng đầy ớt, tiêu như nhau. Nhưng về cách chế biến, khẩu vị của người Trùng Khánh thích cay nồng hơn, gia vị cũng đậm đà hơn. Những du khách không quen ăn cay sẽ không tài nào nếm nổi phần nước lẩu cay chảy nước mắt của nồi lẩu Trùng Khánh.

Tuy lẩu Tứ Xuyên cay là thế nhưng lại không hề gây nhiệt cơ thể bởi được chế biến với 89 nguyên liệu khác nhau, giúp người ăn cảm thấy vị cay nhưng không gây ảnh hưởng tới sức khỏe dạ dày.

Lẩu shabu Bắc Kinh (lẩu nhúng)

Lẩu nhúng Bắc Kinh vốn là lẩu thịt dê, món ăn đơn giản nhưng nước dùng lại được chế biến khá cầu kỳ với 10 loại nguyên liệu gồm dầu ớt, nước tương, bột ngọt, giấm, dầu mè, dầu hạt tiêu, mùi tây, rau hẹ, đậu tương, hành, gừng… Nồi nước dùng phải luôn sôi sùng sục để người ăn thoải mái nhúng thịt dê, hải sản, xách bò và nhiều loại rau ăn kèm.

hinh-anh-cac-mon-lau-trung-quoc-ngon-nuc-tieng-2

Với người dân phương Bắc Trung Quốc, đặc biệt là Bắc Kinh rất ưa chuộng món này, nhất là khi trời chuyển sang đông. Món ăn kèm khoái khẩu nhất cho lẩu nhúng này chính là những đĩa tỏi ngâm. Vị chua của giấm, nồng của tỏi sẽ tăng thêm vị ngon miệng cho người ăn.

Lẩu hoa cúc Tô Hàng

Món lẩu hoa cúc là món ăn do đích thân Từ Hy thái hậu nghĩ ra. Nước lẩu hoa cúc được hầm bởi nước dùng gà hay xương heo, nguyên liệu ăn kèm cũng rất đa dạng với các loại thịt gà, cá thái lát…

hinh-anh-cac-mon-lau-trung-quoc-ngon-nuc-tieng-3

Hoa cúc được rửa sạch, phơi ráo, khi nước lẩu đã sôi thì cho phần hoa cúc vào là có thể dùng. Trong Đông y, hoa cúc có tác dụng bổ khí huyết, tăng tuổi thọ, chống lão hóa, thải độc, giải nhiệt, giảm huyết áp…

Lẩu khô Hồ Nam

Nguyên liệu làm lẩu khô có thể là vịt, cá, thỏ…

hinh-anh-cac-mon-lau-trung-quoc-ngon-nuc-tieng-4

Những món này sau khi sơ chế được ướp thêm các loại phụ liệu như gừng lát, rau mùi… rồi dùng rượu trắng xào sơ qua, sau đó bỏ vào chút dầu ớt, đun khoảng 15 phút là trở thành nồi lẩu khô có mùi vị đặc biệt. Đây là món ăn độc đáo của vùng Hồ Nam.

Lẩu hải sản Quảng Đông

Món lẩu hải sản của người Quảng Đông rất chăm chút phần nguyên liệu, nồi lẩu bắt buộc phải có nhiều loại hải sản đa dạng như thịt bò, mực, bạch tuộc, xách bò, hải sâm…

hinh-anh-cac-mon-lau-trung-quoc-ngon-nuc-tieng-5

Khi ăn, các loại hải sản sẽ được nhúng chín trong phần nước dùng thanh ngọt, sau đó để riêng vào chén của mỗi người rồi mới tiếp tục bỏ các phần nguyên liệu thịt gà, thịt bò vào nồi lẩu. Sau khi dùng xong phần thịt mới thêm vào các loại rau cải, nấm để ăn sau cùng.

Lẩu vịt nấu bia

Đây là món lẩu mới và rất được ưa chuộng những năm gần đây tại Trung Quốc. Món ăn được bắt nguồn do một vị khách trong một lần bất cẩn đã trót đổ bia vào trong nổi lẩu, nhưng sự tình cờ đó lại khiến mùi vị nước dùng thơm ngon hơn. Cũng từ đó đã có khá nhiều nhà hàng thử nghiệm chế biến nước dùng lẩu từ bia.

hinh-anh-cac-mon-lau-trung-quoc-ngon-nuc-tieng-6

Món vịt nấu lẩu bỏ hết phần nội tạng, chỉ lấy phần thịt, đầu, chân rồi nấu chín với các loại gia vị gừng, ớt, tiêu… Phần bia chỉ bỏ vào sau khi nước lẩu đã sôi, đun riu riu khoảng 10 phút là có thể dùng.

Trên đây các món lẩu Trung Hoa ngon và hấp dẫn. Bạn cũng có thể được thưởng thức các món ăn này tại các nhà hàng Trung Quốc tại Việt Nam nhé! Khám phá ẩm thực Trung Hoa là cách tạo động lực học tiếng Trung Quốc rất tốt đấy nhé!

Xem thêm:

27 Th7

10 thứ gia vị Trung Hoa mà món nào bạn cũng gặp

Hình ảnh 10 thứ gia vị Trung Hoa mà món nào bạn cũng gặp 6
Rate this post

Điểm danh 10 gia vị Trung Hoa nổi tiếng và được sử dụng ở hầu hết các món ăn. Các gia vị nấu ăn Trung Quốc vô cùng đa dạng và phong phú.

Người xưa đã nói “Ăn cơm Tàu lấy vợ Nhật” chứng tỏ rằng ẩm thực Trung Quốc vô cùng nổi tiếng và đa dạng. Người Trung Quốc thường không ăn đơn điệu mà có rất nhiều loại gia vị ăn kèm. Cùng Trung tâm tiếng Trung THANHMAIHSK điểm danh 10 loại gia vị Trung Hoa không thể thiếu trong món ăn người Trung Quốc nhé!

10 loại gia vị được sử dụng trong món ăn Trung Hoa

1. Hành lá

hinh-anh-10-thu-gia-vi-trung-hoa-ma-mon-nao-ban-cung-gap-1

Hành lá là loại rau gia vị cần phải có ở bất cứ căn bếp nào ở Trung Quốc. Các đầu bếp ở đây đều thích thêm hành lá được cắt nhỏ lên các món ăn đã được nấu chín, cho cả các món xào, súp hay cá hấp.

2. Gừng

hinh-anh-10-thu-gia-vi-trung-hoa-ma-mon-nao-ban-cung-gap-2

Người Trung Quốc thích dùng gừng vì những tác dụng của nó đối với sức khỏe con người. Gừng là gia vị không thể thiếu và đặc biệt tốt cho món súp và cá hấp.

3. Tỏi

hinh-anh-10-thu-gia-vi-trung-hoa-ma-mon-nao-ban-cung-gap-3

Tỏi là loại gia vị được dùng phổ biến ở nhiều quốc gia nhưng với người Trung Quốc, tỏi được băm nhỏ và xào thơm trước khi thêm các thực phẩm khác vào nấu. Vì họ nghĩ cách làm như vậy sẽ mang đến mùi thơm và hương vị đặc biệt cho món ăn.

4. Hồi

hinh-anh-10-thu-gia-vi-trung-hoa-ma-mon-nao-ban-cung-gap-4

Đây là loại gia vị được dùng nhiều trong các món hầm của người Trung Quốc như món thịt bò hầm hay thịt lợn hầm.

5. Hạt tiêu

hinh-anh-10-thu-gia-vi-trung-hoa-ma-mon-nao-ban-cung-gap-5

Trong các món ăn nổi tiếng của vùng Tứ Xuyên, hạt tiêu là gia vị được dùng nhiều và phổ biến. Hạt tiêu sẽ mang đến cảm giác mạnh, làm tê khoang miệng và là thành phần không thể thiếu trong các món ăn cay của Trung Quốc.

6. Ớt khô

hinh-anh-10-thu-gia-vi-trung-hoa-ma-mon-nao-ban-cung-gap-6

Không chỉ mang đến cho món ăn hương vị đặc trưng, ớt khô còn làm cho món ăn nhìn ngon mắt hơn. Cũng như hạt tiêu, ớt khô là loại gia vị nấu ăn Trung Quốc không thể thiếu trong các món cay Tứ Xuyên. Nếu bạn có xem các kênh về món ăn của Trung Quốc ví dụ như Điền Tây Tiểu Ca thì chắc hẳn bị sốc lắm khi hầu hết các món đều bỏ ớt khô ý nhỉ? Mình xem cũng thấy cay luôn đặc biệt là lẩu ớt Tứ Xuyên, thử 1 lần cho biết nha!

7. Tiêu trắng

hinh-anh-10-thu-gia-vi-trung-hoa-ma-mon-nao-ban-cung-gap-7

Hạt tiêu xay là loại gia vị được yêu thích ở Trung Quốc. Nó làm cho món súp trứng, súp hoành thánh… nóng và thơm hơn. So với những loại gia vị cay như ớt khô hay tiêu hạt, tiêu xay có độ cay nhẹ hơn và không làm mất đi sự cân bằng của món ăn.

8. Xì dầu

hinh-anh-10-thu-gia-vi-trung-hoa-ma-mon-nao-ban-cung-gap-8

Không chỉ được dùng cho các món ăn nấu chín, xì dầu còn được dùng để tạo hương vị cho thực phẩm tươi sống. Nhiều nhà hàng Trung Quốc ở nước ngoài dùng xì dầu thay cho gia vị khi làm món cơm rang. Người Trung Quốc thường dùng xà dầu nhạt để tạo hương vị và xì dầu đậm để tạo màu cho món ăn.

9. Giấm đen

hinh-anh-10-thu-gia-vi-trung-hoa-ma-mon-nao-ban-cung-gap-9

Nhìn bề ngoài thì giấm ở Trung Quốc có màu giống với xì dầu. Loại giấm này có màu đen và tốt hơn nhiều so với giấm trắng. Người Trung Quốc đều thích dùng dấm vì họ cho rằng nó có thể làm giảm nguy cơ tim mạch.

10. Dầu ớt đỏ tương đậu

hinh-anh-10-thu-gia-vi-trung-hoa-ma-mon-nao-ban-cung-gap-10

Đây là loại gia vị được bán rộng rãi ở các siêu thị tại Trung Quốc. Loại gia vị này không thể thiếu khi chế biến món cà tím hay cá hấp và được dùng trong các món cay Tứ Xuyên.

Bạn nào đang có ý định hay chuẩn bị đi du học Trung Quốc, du lịch Trung Quốc, khám phá văn hóa Trung Quốc thì xem mình có hợp với các gia vị món Hoa nào không nhé! Nếu khó ăn thì phải thủ sẵn mì tôm nhé!

Xem thêm:

10 Th7

Văn hóa chào hỏi của người Trung Quốc có gì đặc biệt

Hình ảnh Văn hóa chào hỏi của người Trung Quốc có gì đặc biệt 1
Rate this post

Tìm hiểu văn hóa chào hỏi của người Trung Quốc có gì thú vị và khác lạ. Khám phá văn hóa giao tiếp ứng xử của người Trung Quốc nhé!

hinh-anh-van-hoa-chao-hoi-cua-nguoi-trung-quoc-co-gi-dac-biet-1

Người Trung Quốc có những nét văn hóa rất đặc trưng và khác biệt. Trong văn hóa chào hỏi , người Trung Quốc thường làm những gì và tránh làm những gì? Để biết thêm về văn hóa chào hỏi của người Trung Quốc, bạn cùng trung tâm tiếng Trung THANHMAIHSK tìm hiểu nhé!

Đặc trưng văn hóa giao tiếp của người Trung Quốc

Cách bắt tay của người trung quốc

” CHẮP TAY, NẮM CHẶT BÀN TAY TAY”

拳头 (quántou) n. fist : Chắp tay ( hình thức một bàn nắm chặt, bàn còn lại đặt lên)

祝贺 (zhùhè) n. congratulations : Chúc mừng

Chắp tay là một thức chào hỏi, thường thì đàn ông sẽ hay sử dụng những hình thức này, với việc đan bàn tay này vào bàn tay kia và đặt nó ngang tầm ngực. Đây là một phong tục truyền thống ở Trung Quốc để biểu đạt ý “祝贺 (zhùhè) chúc mừng” và mong ước tốt đẹp 愿望 (yuànwàng)

Trong văn hóa Trung Quốc hiện đại, chắp tay được sử dụng phổ biến trong các tình huống kinh doanh. Cho nên cách người ta nghiêm chỉnh chắp tay là đứng thẳng lên, nắm tay trái lại và đặt tay bàn tay phải, nhẹ nhàng di chuyển nắm tay lên và xuống ở tầm ngực. Chúng ta có thể xem hình dưới đây

Ở Trung Quốc, việc thể hiện sự chào hỏi qua năm tay thường được sử dụng ở ba tình huống sau đây:

1. Ở các lễ tết chính thống , như là “春节 (chūnjié) Tết Nguyên Đán.” Chúng ta thường thể hiện sự chào hỏi bằng cách chắp tay khi gặp “邻居 (línju) hàng xóm,” “朋友 (péngyou bạn bè” or “同事 (tóngshì) đồng nghiệp.”

2. Ở các ngày lễ, đại hội , như khách của “婚礼 (hūnlǐ) lễ thành hôn” or khách của tiệc sinh nhật, “客人 (kèrén)” chắp tay để chúc mừng “主人 (zhǔrén) người tổ chức.”

3. Tại lúc chia tay của các bữa tiệc, người ta thường chắp tay để biểu thị ý “Về cẩn thận nhé!” với người đối diện. Cũng có lúc, chúng ta chắp tay để biểu hiện ý xin tạ lỗi

Việc thể hiện việc chắp tay này cũng có thể được sử dụng thay cho những từ đặc biệt, những biểu hiện đặc thù như: 节日快乐 (jiérì kuàilè) Chúc mừng năm mới, “恭喜 (gōngxǐ) chúc mừng” or “久仰 (jiǔyǎng) Nghe danh ngài đã lâu”

Ngoài ra, với bạn bè, người cùng tuổi, sẽ dùng bàn tay trái ôm lấy nắm tay phải và để ngang ngực, khuôn mặt vui vẻ và mắt nhìn thẳng vào người phía người chào. Nếu dùng tay phải ôm lấy nắm tay trái sẽ thể hiện sự không tôn trọng.

Cũng theo đó, trong những cuộc thi đấu võ thuật, hai đối thủ cần chắp tay vái chào lẫn nhau ở trước và sau khi trận đấu. Bởi điều đó đã trở thành quy tắc và lễ nghi không thể thiếu trong những cuộc thi đấu và biểu diễn võ thuật của Trung Quốc.

hinh-anh-van-hoa-chao-hoi-cua-nguoi-trung-quoc-co-gi-dac-biet-2

ảnh internet

Văn hóa giao tiếp ứng xử của người Trung Quốc

Đặc biệt, trong văn hóa giao tiếp ứng xử của người Trung Quốc, họ vô cùng coi trọng và khá khắt khe. Nếu trong khi chào hỏi, mà bắt tay quá chặt sẽ thể hiện sự không tôn trọng. Vì vậy, khi bắt tay nhau phải thả lỏng và thật nhẹ nhàng.

Ngoài ra, khi chào hỏi cần chào hỏi những người có chức quyền trước, chứ không được chào hỏi phụ nữa được.

Đồng thời, khi nói chuyện hoặc giới thiệu người khác với ai đó, nên dùng cả bàn tay đã được ngả lòng sau đó mới chỉ về phía người đó, nhất định không được dùng ngón tay trỏ chỉ về phía người đó sẽ thể hiện sự không lịch sự.

Không những thế, khi gặp người Trung Quốc, nên tránh cách ôm hôn, thậm chí chỉ là hôn má hay hôn tay, bởi điều này được coi là không thể chấp nhận (trừ khi người bạn gặp có quan hệ gần gũi).

Người Trung Quốc cho rằng, lễ nghi là bài học mà mỗi người dân của đất nước này đều cần phải học. Một trong những lễ nghi quan trọng của người Trung Hoa chính là tôn trọng bề trên, hiếu thảo với cha mẹ và khiêm tốn nhường nhịn với tất cả mọi người.

Chính vì vậy, nghi thức chào hỏi và cách bắt tay của người Trung Quốc đã phản ánh đặc điểm văn hóa của đất nước Trung Quốc. Ngoài ra, phía sau sự ra đời của một nghi thức chào hỏi đều kèm theo một câu chuyện văn hóa của đất nước đó. Nếu bạn có sang Trung Quốc học tập và sinh sống thì đừng quên học hỏi và tiếp thu văn hóa hay của người Trung Quốc nhé! Đó gọi là “nhập gia tùy tục” đó bạn!

Đừng quên đăng ký cho mình những khóa học tiếng Trung tại THANHMAIHSK để tìm hiểu ngày càng nhiều hơn về văn hóa Trung Quốc nha!

Xem thêm:

09 Th7

Các loại đàn Trung Quốc nổi tiếng thế giới

Hình ảnh Các loại đàn Trung Quốc nổi tiếng thế giới 3
Các loại đàn Trung Quốc nổi tiếng thế giới
5 (100%) 1 vote

Các loại đàn Trung Quốc mà thế giới nhiều người biết đến. Tìm hiểu văn hóa âm nhạc qua các loại đàn của người Trung Quốc.

Âm nhạc Trung Hoa là một trong những nét văn hóa đặc sắc và khiến cho thế giới phải ngưỡng mộ. Trong đó, các dụng cụ âm nhạc đã làm cho nền âm nhạc Trung Quốc thêm phần phong phú. Bạn có biết, Trung Quốc có những loại đàn nào không? Nếu không thì hãy cũng trung tâm tiếng Trung tìm hiểu các loại đàn Trung Quốc nhé!

Các loại đàn nổi tiếng của Trung Quốc

1. Đàn cổ cầm

Cổ cầm ([kùtɕʰǐn] (nghe); tiếng Trung: 古琴) là một loại nhạc cụ Trung Quốc thuộc bộ dây dạng gảy gồm có 7 dây. Đàn này được chơi từ thời cổ đại, theo truyền thống được các học giả và sĩ phu yêu thích và xem là loại nhạc cụ thanh nhã, tinh tế, như được nhấn mạnh trong trích dẫn “quân tử không thể rời cầm hay sắt (tên một loại nhạc cụ) của mình mà không có lí do chính đáng,” cũng như được liên kết với triết gia Trung Quốc cổ đại Khổng Tử.

hinh-anh-cac-loai-dan-trung-quoc-noi-tieng-gioi

Thỉnh thoảng người Trung Quốc nhắc tới nó như là “cha của âm nhạc Trung Quốc” hoặc “nhạc cụ của hiền nhân”. Không nên nhầm lẫn cổ cầm với cổ tranh.

2. Đàn tranh

Đàn tranh (chữ Nôm: 彈箏, chữ Hán: 古箏: cổ tranh;Bính âm:Gǔzhēng) – còn được gọi là đàn thập lục, là nhạc cụ truyền thống của người phương Đông, có xuất xứ từ Trung Quốc. Đàn thuộc họ dây, chi gảy. Vì có 16 dây nên đàn còn có tên gọi là đàn Thập lục.

hinh-anh-cac-loai-dan-trung-quoc-noi-tieng-gioi-2

Ngoài khả năng diễn tấu giai điệu, ngón chơi truyền thống của đàn tranh là những quãng tám rải hoặc chập và ngón đặc trưng nhất là vuốt trên các dây là ngón á. Đàn tranh là nhạc khí dùng để độc tấu, hòa tấu, đệm cho hát, ngâm thơ và được chơi trong nhiều thể loại âm nhạc như các dàn nhạc tài tử, cải lương, chèo, nhã nhạc, dân tộc tổng hợp.

3. Đàn tỳ bà

Đàn tỳ bà (chữ Hán: 琵琶; bính âm: pípá, romaji: biwa, chuyển tự tiếng Triều Tiên: bipa)[1] là tên gọi một nhạc cụ dây gẩy của người phương Đông, qua thời gian dài sử dụng nó đã được bản địa hóa khác nhau tuỳ theo từng vùng hoặc từng quốc gia. Tỳ bà lần đầu tiên được nêu danh trong lịch sử Việt Nam, khi Lê Tắc ghi trong An Nam chí lược tên dàn tiểu nhạc dùng ngoài cung đình nhà Trần.

hinh-anh-cac-loai-dan-trung-quoc-noi-tieng-gioi-3

Đàn tỳ bà của Việt Nam là dạng rất cổ xưa của đàn PiPa, vốn từ Ba Tư dưới dạng đàn Barbat theo con đường tơ lụa vào Trung Quốc.

4. Đàn tam

Đàn tam(chữ Hán: 三弦: tam huyền;Bính âm:Sānxián) – còn được gọi là tam huyền cầm là nhạc cụ dây gẩy xuất xứ từ Trung Quốc được du nhập vào Việt Nam. Đàn được mắc ba dây nên gọi là Đàn Tam (Hán-Việt: tam là ba).

hinh-anh-cac-loai-dan-trung-quoc-noi-tieng-gioi-4

Về hình dáng cấu tạo đàn tam gồm có những bộ phận chính như sau:

Bầu đàn hay hộp đàn: là khuôn gỗ dày hình chữ nhật (4 cạnh tròn), kích thước 14 – 17 cm. Thành đàn cao khoảng 5 cm, khá nặng, làm bằng gỗ cứng. Mặt đàn bọc bằng da trăn hoặc da kỳ đà. Ở phần gần giữa mặt đàn là ngựa đàn. Trước đây hậu đàn bịt da, ngày nay làm bằng gỗ, có lỗ thoát âm.

Cần đàn: dài, làm bằng gỗ cứng, trên mặt không có phím đàn.

Đầu đàn: có hốc luồn dây và 3 trục dây (bên 2 trục, bên 1 trục). Đầu đàn hơi ngả về phía sau.

Dây đàn: trước đây làm bằng tơ se, nay làm bằng dây nylon với kích thước khác nhau. Tổng cộng có 3 dây đàn móc vào cuối bầu đàn, chạy lên phía trên ngựa đàn đến cần đàn rồi xỏ vào trục dây được luồn qua miếng xương có 3 lỗ nằm trên mặt cần đàn. Người ta có thể di chuyên miếng xương này lên gần đầu đàn hay kéo xuống hướng bầu đàn để điều chỉnh độ căng, giãn của 3 dây đàn, giúp âm thanh cao lên hay trầm xuống. Nói cách khác, miếng xương này giống như cái khuyết ở đàn nhị. Tuy nhiên loại đàn tam ngày nay, nhất là loại thường dùng người ta đã bỏ miếng xương này.[1]

Âm thanh

Đàn tam có âm sắc không giống các đàn khảy dây khác như đàn tỳ bà, đàn nguyệt hay đàn tứ. Điều này có lẽ chịu ảnh hưởng phần nào bởi mặt bầu vang bịt da trăn. Đàn tam có màu âm vang, ấm, sáng sủa, thích hợp rộn rã. Dây đàn được lên cách nhau một quãng 4 đúng và 5 đúng Sol – Do -Sol hoặc Sol – Re – Sol. Tuy nhiên khi ở quãng thấp âm sắc đàn tam hơi đục, dùng để thể hiện những giai điệu trầm hùng, khỏe khoắn.

Đối với đàn tam cỡ vừa và lớn, âm sắc hơi mờ và đục hơn đàn cỡ nhỏ, âm thanh gần giống như tiếng trống. Các loại đàn tam đều có âm vực khoảng 3 quãng tám.

5. Đàn nguyệt

Đàn nguyệt chữ Hán:月琴: nguyệt cầm;Bính âm:Yùeqín) – là nhạc cụ dây gẩy xuất xứ từ Trung Quốc được du nhập vào Việt Nam., trong Nam còn gọi là đờn kìm. Loại đàn này có hộp đàn hình tròn như mặt trăng nên mới có tên là “đàn nguyệt”. Theo sách xưa, đàn nguyên thủy có 4 dây, sau rút lại còn 2 dây.

hinh-anh-cac-loai-dan-trung-quoc-noi-tieng-gioi-5

Đàn Nguyệt là cây đàn rất phổ biến dùng để độc tấu, hòa tấu với nhiều ngón chơi độc đáo như ngón nhấn, ngón vê, ngón luyến… Màu âm đàn Nguyệt tươi sáng, rộn ràng, tình cảm, đa dạng trong diễn tả các trạng thái cảm xúc âm nhạc. Đàn Nguyệt được sử dụng trong hát Ca trù, Chầu Văn, Ca Huế, Đờn Ca Tài Tử và Cải Lương…

Trên đây là 5 loại đàn tại Trung Quốc nổi tiếng, còn rất nhiều những loại đàn khác, chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu ở những bài viết tiếp theo bạn nhé!

Khám phá văn hóa Trung Hóa sẽ làm một động lực giúp bạn học tốt tiếng Trung hơn đó nha!

Xem thêm:

04 Th7

Kinh kịch Trung Quốc-Loại hình sân khấu ngàn năm của Trung Quốc

Hình ảnh Kinh kịch Trung Quốc-Loại hình sân khấu ngàn năm của Trung Quốc 1Hình ảnh Kinh kịch Trung Quốc-Loại hình sân khấu ngàn năm của Trung Quốc 1
Rate this post

Kinh kịch Trung Quốc (hí kịch) trở thành một nét văn hóa đặc sắc của Trung Quốc. Cùng tiếng Trung THANHMAIHSK tìm hiểu kinh kịch là gì nhé!

hinh-anh-kinh-kich-trung-quoc-loai-hinh-san-khau-ngan-nam-cua-trung-quoc-1

Những người yêu thích văn hóa Trung Quốc chắc hẳn đã cũng yêu thích kinh kịch Trung Quốc. Nghệ thuật tuồng của Việt Nam cũng ảnh hưởng khá nhiều từ kinh kịch Trung Quốc. Để giúp các bạn hiểu rõ hơn, trung tâm tiếng Trung THANHMAIHSK sẽ khám phá cùng bạn nhé!

Kinh kịch là gì?

Kinh kịch là gì? Kinh kịch loại hình nghệ thuật được coi là nghệ thuật tinh túy, là quốc bảo hay có cái tên là Ca kịch Phương Đông. Trải qua 200 năm lịch sử, kinh kịch được đánh giá là một loại hình nghệ thuật biểu diễn sân khấu đặc sắc, nội hàm thâm thúy.

Nguồn gốc của kinh kịch Trung Quốc

Kinh kịch được bắt nguồn từ mấy loại tuồng cổ địa phương, đặc biệt là “Huy Ban” tức “đoàn tuồng An Huy” lưu hành tại miền Nam Trung Quốc hồi thế kỷ 18. Năm 1790, “đoàn tuồng An Huy” đầu tiên đến Bắc Kinh biểu diễn chúc mừng sinh nhật nhà vua.

hinh-anh-kinh-kich-trung-quoc-loai-hinh-san-khau-ngan-nam-cua-trung-quoc-2

Sau đó lại có nhiều đoàn tuồng An Huy đến Bắc Kinh biểu diễn. Ban biểu diễn tuồng Huy vốn có tính lưu động mạnh, do hấp thụ nhiều phương pháp biểu diễn của các chủng loại tuồng khác nhau, Bắc Kinh là nơi tập trung nhiều chủng loại tuồng địa phương, điều này khiến nghệ thuật biểu diễn của đoàn tuồng Huy được nâng cao nhanh chóng.

Về sau Huy kịch được pha trộn với Hán kịch tạo thành một loại hình nghệ thuật cực thịnh vào thời vua Càn Long, đó chính là Kinh kịch mà ngày nay còn lưu truyền.

Các giai đoạn phát triển của kinh kịch Trung Quốc

Từ thời nhà Đường trở về trước nghệ thuật diễn tuồng sân khấu được gọi là hí kịch.

Các thể loại kịch của Trung Quốc cũng như các loại hình biểu diễn sân khấu tương tự tại các nước trong khu vực như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam thường lấy các sự tích câu chuyện những vị anh hùng trong dân gian và lịch sử làm đề tài chủ đạo.

Cho đến thời nhà Đường, được phát triển thành Tham quân hí (hoặc được gọi là Lộng tham quân) bao gồm hai vai: một người mặc y phục xanh lục tề chỉnh, thông minh cơ trí và linh lợi, tên vai diễn gọi là Tham quân; còn người kia ăn mặc lôi thôi, khờ khạo đần độn, tên vai diễn gọi là Thương cốt. Hai nhân vật này trong vở khi diễn thường có những lời đối đáp khôi hài trào lộng. Tham quân là vai chính, Thương cốt là vai phụ. Đôi khi Tham quân là đối tượng để làm trò cười và cuối cùng bị Thương cốt đánh đập.

Đến thời nhà Tống, Tham quân hí biến thành Tạp kịch. Vai diễn cũng chỉ có hai người: Thương cốt (vai khờ khạo) được đổi thành tên Phó mạt, còn Tham quân (vai tinh khôn) được đổi tên là Phó tịnh. Trong khi diễn, diễn viên nam cũng có thể hóa trang thành nhân vật nữ để diễn xuất, được gọi là Trang đán. Đến thời Nam Tống, vùng đất Ôn Châu là nơi nổi danh về hí kịch, ca múa, nên sản sinh ra thể loại được gọi là Nam hí (hí kịch Nam Tống).

Thời nhà Tống nghệ thuật diễn không chú ý đến các vai nữ (Đán giác). Vai nữ được xếp hạng là «đệ tử» (con em). Trong ban hát đều là nữ thì được gọi là «đệ tử tạp kịch». Vai chính được gọi là Chính đán, vai già là Lão đán, vai trẻ là Tiểu đán, Trà đán, Thiếp đán, v.v…

hinh-anh-kinh-kich-trung-quoc-loai-hinh-san-khau-ngan-nam-cua-trung-quoc-3

Vào thời nhà Nguyên, vai nữ (đán giác) lại rất được xem trọng. Đó cũng là điểm khác biệt giữa tạp kịch thời nhà Nguyên và tạp kịch thời nhà Tống.

Tính chất tạp kịch thời nhà Tống và thời nhà Nguyên có chung một tính chất là khôi hài, hoạt kê, nhưng tạp kịch thời nhà Nguyên có nhấn mạnh thêm tính chất phê phán thói đời và các tệ nạn xã hội.

Tạp kịch thời nhà Nguyên là thành tựu rất lớn và ở giai đoạn đỉnh điểm hưng thịnh của nó trong suốt hai thế kỷ XIII-XIV. Nhiều nhà soạn những vở diễn tuồng múa hát rất nhiều, khoảng trên 150 người, trong số đó nổi tiếng nhất là Quan Hán Khanh có ít nhất cũng khoảng 60 vở tuồng.

Đặc điểm của kinh kịch Trung Quốc

Nhân vật trong kinh kịch

Các nhân vật trong Kinh kịch chủ yếu được chia làm bốn vai lớn: Sinh (vai nam), Đán (vai nữ), Tịnh (vai tà), Sửu (vai hề) và một số vai phụ. Trong Kinh kịch thường có các màn nhào lộn, xiếc và diễn trò. Đặc biệt còn có những màn võ thuật truyền thống Trung Quốc. Có thể nói, Kinh kịch đã góp phần làm phong phú diện mạo của điện ảnh Hồng Kông và Trung Quốc hiện đại. Do trong thể loại phim quyền cước của Hồng Kông có hai loại võ thuật, võ thuật thật sự của các võ sư, quyền sư và võ thuật sân khấu của diễn viên Kinh kịch chuyển sang.

Người phương Tây ví Kinh kịch là “Ca kịch phương Đông”, loại hình sân khấu đặc sắc của Trung Quốc và mang đậm nét văn hóa thuần túy Á đông. Tháng 11/2010, UNESCO chính thức công nhận Kinh kịch là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Kinh kịch đã được chính phủ Trung Quốc ra sức nâng đỡ. Ngoài việc xây dựng một nhà hát lớn mang tên Trường An quanh năm biểu diễn Kinh kịch, các cuộc thi biểu diễn Kinh kịch trong nước và quốc tế cũng thu hút nhiều người hâm mộ. Đặc biệt, Kinh kịch còn được chọn là chương trình giao lưu văn hóa giữa Trung Quốc với nước ngoài.

Mặt nạ trong kinh kịch Trung Quốc

Mặt nạ trong Kinh kịch được gọi là “kiểm phổ”. Đây là yếu tố quan trọng làm nên sự thành công của Kinh kịch. Qua mặt nạ, người xem có thể nhận biết các nhân vật trung thành, gian trá, tốt đẹp hay xấu xa, lương thiện hay gian ác, cao thượng hay thấp hèn. Ví dụ: nặt nạ tô đỏ – nhân vật trung thành nhất mực; màu trắng – nhân vật gian trá, độc ác; màu xanh lam – nhân vật kiên cường, dũng cảm; màu vàng – nhân vật tàn bạo; màu vàng hoặc màu bạc tượng trưng cho Thần Phật, quỷ quái… khiến khán giả có một cảm giác thiêng liêng, huyền ảo.

Bên cạnh sự nổi tiếng của thư pháp và tranh thuỷ mặc, nghệ thuật vẽ mặt nạ Kinh kịch cũng được xếp vào nghệ thuật “hoạ”. Thông qua mặt nạ, lối tư duy trừu tượng, hình tượng hoá đặc trưng văn hoá gốc nông nghiệp cũng được thể hiện rõ. Ngoài ra, nghệ thuật vẽ mặt nạ còn bật lên sự tỉ mỉ, chỉn chu, khéo léo đặc trưng của người Trung Quốc. Nhưng tính cách của người Trung Quốc được thể hiện rõ nhất không phải thông qua chiếc mặt nạ, mà qua cách họ sử dụng chúng. Từ lối tư duy chọn vẽ mặt nạ lên mặt người, cho đến sự khôn khéo, tư lợi trong việc kinh doanh đều chỉ rõ tính thế tục của họ.

Có nghiên cứu cho rằng, mặt nạ Kinh kịch được vẽ trực tiếp lên mặt người, có hiệu quả tốt hơn thay vì sử dụng mặt nạ bằng giấy. Khán giả bị thu hút bởi “kiểm phổ” do sự chuyển động của các cơ mặt khiến cho mặt nạ sinh động và gây hiệu ứng thích thú từ khán giả. Người diễn viên Kinh kịch giỏi khi nhuần nhuyễn trong việc thể hiện cảm xúc, đồng bộ cùng mặt nạ họ đang mang, để tạo nên sự hấp dẫn cho nhân vật.

hinh-anh-kinh-kich-trung-quoc-loai-hinh-san-khau-ngan-nam-cua-trung-quoc-4

Kiểm phổ được vẽ tinh xảo, màu sắc rực rỡ, khuôn mặt có thể méo mó nhưng cũng có thể ngay thẳng, đường nét có thể thô hoặc mỏng, rất đa dạng. Kiểm phổ thể hiện nên tính cách tốt – xấu, trung trực – gian xảo, vừa có thể nói lên quan hệ huyết thống, tính cách, lại có thể nói lên thân phận của nhân vật, và cũng có thể gây nên sự chú ý của khán giả, từ đó bù đắp những thiếu sót về biểu hiện cảm xúc của diễn viên, do đó kiểm phổ là nét đặc trưng lớn của Kinh kịch.

hinh-anh-kinh-kich-trung-quoc-loai-hinh-san-khau-ngan-nam-cua-trung-quoc-5

Kiểm phổ thể hiện tính cách, ví dụ như mặt đỏ thể hiện tính cách trung liệt, dũng cảm, chính nghĩa; mặt đen biểu thị sự thô bạo, hung dữ; mặt xanh dương biểu thị sự ngoan cường, dũng mãnh; mặt trắng biểu thị sự gian xảo, nham hiểm; “mặt đậu phụ” biểu thị sự a dua, nịnh bợ…;

Ngoài ra còn rất nhiều kiểm phổ mà không thể liệt kê ra hết, vừa có thể dùng các màu sắc khác nhau để vẽ nên các hoa văn khác nhau nhằm lột tả hết tính cách của nhân vật trong vở kịch, giúp khán giả có cái nhìn cụ thể hơn.

Trang phục kinh kịch Trung Quốc: Các diễn viên được mặc những bộ đồ hoàng cung vô cùng lộng lẫy, nhiều chi tiết sặc sỡ. Các bộ trang phục được chuẩn bị sẵn, vô cùng cầu kỳ.

hinh-anh-kinh-kich-trung-quoc-loai-hinh-san-khau-ngan-nam-cua-trung-quoc-6

Kinh kịch được nhìn nhận là tinh hoa nghệ thuật truyền thông dân tộc, được chính phủ Trung Quốc bảo tồn và nâng đỡ.

Tìm hiểu về văn hóa Trung Quốc sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu rộng và yêu thích thêm về Trung Hoa. Đây cũng là cách làm bạn có thêm động lực học tiếng Trung Quốc đấy nhé!

Xem thêm:

21 Th6

Người Trung Quốc thích ăn gì ở Việt Nam

Hình ảnh Người Trung Quốc thích ăn gì ở Việt Nam 3
Người Trung Quốc thích ăn gì ở Việt Nam
5 (100%) 1 vote

Người Trung Quốc thích ăn gì ở Việt Nam. Người Trung Quốc thích ăn gì để bạn có thể lên một kế hoạch kinh doanh cho riêng mình nhé!

Nếu bạn là người đang muốn kinh doanh hàng ăn dành cho người Trung Quốc hay là hướng dẫn viên thì hãy xem ngay những món ăn mà người Trung Quốc thích ăn tại Việt Nam để giới thiệu nhé! Người Trung Quốc thích ăn gì ở Việt Nam? Cùng điểm danh với THANHMAIHSK nhé!

Người Trung Quốc thích ăn món gì?

1. Phở

Hình ảnh Người Trung Quốc thích ăn gì ở Việt Nam 1

Món ăn phổ biến khắp Việt Nam này được CNN chọn là 28/50 món ăn ngon nhất thế giới năm 2011. Phở bò hay phở gà… với bánh phở dai mịn, chút hành chẻ, hành hoa, rau thơm thái nhỏ và nước dùng béo ngậy là món mà du khách Trung Quốc đến Việt Nam yêu thích.

2. Bánh mì kẹp

hinh-anh-nguoi-trung-quoc-thich-gi-o-viet-nam-2

Cũng như phở, bạn có thể tìm thấy hàng bánh mì kẹp ở nhiều nơi. Bánh mì kẹp phong phú với nhiều loại nhân như pate, nhân thịt xá xíu, nhân heo quay…, trong đó bánh mì Hội An là nơi được cho là ngon nhất. Du khách Trung Quốc ở miền Trung rất thích món ăn này.

3. Cao lầu

hinh-anh-nguoi-trung-quoc-thich-gi-o-viet-nam-3

Ngoài món bánh mì kẹp thì món cao lầu của Hội An là đặc sản được du khách Trung Quốc yêu thích và khen ngợi không kém. Đây chính là một trong những câu trả lời phổ biến nhất khi được hỏi người Trung Quốc thích ăn món gì? Cùng bởi lí do cao lầu chính là món ăn có nguồn gốc từ Trung Quốc chính vì vậy, món ăn quen thuộc và được yêu thích khi sang Việt Nam.

4. Gỏi cuốn

hinh-anh-nguoi-trung-quoc-thich-gi-o-viet-nam-4

Quả thật gỏi cuốn là món dễ ăn gồm có bún, tôm, thịt luộc, rau sống được cuốn trong vỏ bánh tráng mỏng ăn cùng nước tương chấm chua ngọt. Khách Trung Quốc khi đến Việt Nam đều thấy thích thú với hương vị và sự đẹp mắt của món ăn này.

7 món ăn người Trung Quốc thích ăn tại Việt Nam

5. Bún chả

hinh-anh-nguoi-trung-quoc-thich-gi-o-viet-nam-5

Thành phần quan trọng nhất tạo nên sức hấp dẫn của món bún chả chính là nước chấm. Nước chấm bún chả được tạo thành từ các nguyên liệu đơn giản như nước mắm, đường, giấm, tỏi, ớt, hạt tiêu, đu đủ xanh, cà rốt nhưng kết hợp khéo léo theo bí quyết riêng để tạo nên vị chua ngọt hấp dẫn. Bún chả thường được ăn kèm với một rau sống và là món ăn được người Trung khi đến Việt Nam ưa chuộng nhất vào mùa hè.

6. Bún bò Huế

hinh-anh-nguoi-trung-quoc-thich-gi-o-viet-nam-6

Là món ăn đặc trưng của cố đô Huế nhưng đến nay, bún bò Huế đã có mặt tại hầu hết các địa phương ở Việt Nam và xuất hiện ở các thành phố lớn của Trung Quốc như Bắc Kinh… Nguyên liệu chính tạo nên món bún bò Huế bao gồm bún sợi to, thịt bắp bò, giò heo và nước dùng đặc trưng có vị cay nồng của ớt, hương thơm của sả, mắm ruốc. Theo chia sẻ của các đầu bếp giàu kinh nghiệm, nước dùng được coi là linh hồn của món bún bò Huế. Nước được hầm từ xương bò và một vài loại củ. Nước dùng phải trong, có đầy đủ ba vị ngọt, chua, cay mới đạt yêu cầu. Bún bò Huế thường được ăn kèm với các loại rau thơm.

7. Chả giò

hinh-anh-nguoi-trung-quoc-thich-gi-o-viet-nam-7

Chả giò là một món ăn có hình thức khá giống nhau ở vài quốc gia châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, có khác chăng là phần nhân bên trong và loại bánh tráng cuốn bên ngoài. Trong khi đó, ngay ở Việt Nam, tùy nhà hàng, tùy người… phần nhân chả giò được thay đổi các loại nhân một cách tinh tế; thêm nữa là cũng với một loại nhân như thế nào đó và thay vì gói bằng loại bánh tráng mỏng quen thuộc, người ta dùng loại bánh tráng dạng lưới để cuốn thì được gọi là chả giò rế.

Để phù hợp với du khách Trung Quốc , nhiều nhà hàng Việt Nam đã biến tấu để có phần nước chấm phù hợp với khẩu vị người Trung.

Trên đây là một số món ăn mà người Trung Quốc thích khi ở Việt Nam, hi vọng sẽ giải đáp phần nào thắc mắc của các bạn.

Người Trung Quốc thích ăn gì

Xem thêm:

18 Th6

Chữ đức trong tiếng Trung

Chữ đức trong tiếng Trung
5 (100%) 1 vote

Chữ đức tiếng Trung mang ý nghĩa gì. Chữ đức trong tiếng Trung có hàm nghĩa sâu sắc. Học tiếng Trung về chữ đức.

hinh-anh-chu-duc-trong-tieng-trung-1

Mỗi chữ trong tiếng Trung đều có một ý nghĩa riêng. Chữ Đức trong tiếng Trung có nội hàm sâu sắc và được “Khang Hy tự điển” giải thích với những ý nghĩa rất tốt đẹp. Cùng THANHMAIHSK tìm hiểu về chữ đức trong tiếng Trung.

Chữ đức tiếng Trung có ý nghĩa như nào?

Chữ Đức trong tiếng Hoa theo cuốn “Khang Hy tự điển” là “Thiện mỹ, chính đại quang minh, trong sáng”. Thực ra trong lời bói quẻ thời nhà Thương và tài liệu lịch sử thời kỳ trước khi nhà Tần thống nhất Trung Hoa, thì “Đức” và “Đắc” là có liên hệ mật thiết. “Đức” có hàm ý là đạt được, có được. Trong cuốn “Thuyết văn giải tự” giải thích “Đức” như thế này: “Đức giả đắc dã, nội đắc vu kỷ, ngoại đắc vu nhân” (Tạm dịch: Người có Đức thì bên trong làm chủ được bản thân, bên ngoài đắc được nhân tâm).

Đức trong văn hóa Trung Hoa được người xưa xem là tiêu chuẩn phân biệt giữa con người với cầm thú. Chỉ khi phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức mà con người cần phải có thì mới xứng được gọi là người. Mà làm người, muốn “Tề gia trị quốc, bình thiên hạ” thì đầu tiên phải “Tu thân”. Tu thân nghĩa sao? Chính là tu dưỡng đạo đức bản thân. Căn cứ trình độ tu dưỡng đạo đức cao hay thấp, người ta chia làm 4 hạng người là Thánh nhân, người tài, quân tử, và tiểu nhân. Cho nên hoàng đế cần phải “Tu Đức cho xứng với Mệnh”, “Kính Đức hạnh và bảo vệ nhân dân”, nhân dân “Sỹ phu có trăm hạnh, đứng đầu là Đức”, cần phải “Tu thân dưỡng Đức”.

Bàn về chữ đức trong tiếng Trung Hoa cổ

Vì sao chữ đức trong tiếng Hán lại quan trọng đến thế? Vấn đề này vượt khỏi nhận thức “Tu thân” thông thường, là một phương diện mà giới tu luyện mới có thể hiểu rõ. Người sáng lập Pháp Luân Đại Pháp – Sư Phụ Lý Hồng Chí đã giảng:

“Đức tích lại từ các kiếp trước. Vua, quan, phú, quý đều từ Đức mà ra. Vô Đức, vô đắc; mất Đức tức là mất tất cả. Vậy ai muốn quyền lực và của cải trước tiên cần phải tích đức. Bằng lao động vất vả và làm việc thiện, người ta có thể thu lấy Đức từ quần chúng. Muốn thành tựu, phải lĩnh hội luật nhân-quả. Hiểu được thế thì dân chúng và quan chức mới biết tự tu thân, phú quý thái bình mới thịnh hành thiên hạ”. (Tinh tấn yếu chỉ – “Của và Đức”)

“Con người tại rất nhiều các không gian khác đều có một thân thể chuyên biệt; và trong một không gian nhất định, thì có một trường bao quanh thân thể. Là trường gì vậy? Trường ấy chính là cái mà chúng tôi gọi là “đức”. Đức là một loại chất màu trắng; nó không phải là thứ mà trước kia chúng ta cho rằng chỉ là điều [thuộc về] tinh thần, điều ở trong con người [với] hình thái ý thức; nó hoàn toàn là dạng tồn tại vật chất; vậy nên những người già trước đây thường nói nào là tích đức, nào là tổn đức; những lời nói ấy hết sức đúng.” (Chuyển Pháp Luân – Bài giảng thứ nhất)

Trên đây là những hàm nghĩa sâu sắc của chữ đức tiếng Trung. Hiểu được những ý nghĩa này, bạn sẽ cảm thấy yêu thích và có động lực học tiếng Trung Quốc nhé!

Xem thêm:

14 Th6

Phong tục đám ma của người Trung Quốc khiến nhiều người ngạc nhiên

Hình ảnh Phong tục đám ma của người Trung Quốc khiến nhiều người ngạc nhiên 1
Rate this post

Tìm hiểu những phong tục đám ma của người Trung Quốc khiến nhiều người bất ngờ và ngạc nhiên. Văn hóa của người Trung Quốc trong ma chay.

Hình ảnh Phong tục đám ma của người Trung Quốc khiến nhiều người ngạc nhiên 1

Trung Quốc là một đất nước có nền văn hóa sâu rộng và rất lâu đời chính vì vậy phong tục văn hóa chính là một trong những chủ đề thú vị khi tìm hiểu Trung Quốc. Trong đó phong tục đám ma của người Trung Quốc sẽ khiến nhiều bạn bất ngờ đó. Cùng tiếng Trung THANHMAIHSK tìm hiểu nhé!

Các hình thức mai táng của người Trung Quốc

– Thổ táng: là hình thức chôn cất người chết gắn với tộc người Hán.

– Thủy táng: gắn với những tộc người sống và sinh hoạt ở vùng song nước.

– Hỏa táng:còn gọi là hỏa hóa, là tục mai táng cổ xưa. Theo tài liệu khảo cổ tục hỏa táng đã có từ thời đồ đá mới.Người hán cho rằng đây là một hình thức mai táng quái dị. Ở Giang Nam từ thời Nam Tống bắt đầu chuộng cách mai táng này.

– Thiên táng: Gắn với tộc người Tây Tạng (vì là dân du mục nên họ không thể c hôn cất người chết ở 1 địa điểm cụ thể. Với họ, khi chim ó ăn xác người chết rồi bay lên nghĩa là người chết đã được lên thiên đàng).

– Huyền táng: Những tộc người sống ở vùng núi cai hiểm trở (họ quan niệm vách núi cao sẽ tách biệt vs nơi trần thế giúp người chết được yên nghỉ)

– Ngoài ra còn có thụ táng (là thiêu xác rồi chôn tro dưới gốc cây) và hỏa táng.

=>> Vì người Hán là chủ nhân văn hóa nên hình thức mai táng chính là hình thức thổ táng,

Tìm hiểu quy trình Tang ma và các đặc điểm tiêu biểu.

Quy trình nghi thức tang ma của người Trung Quốc

Với vị trí địa lý tự nhiên ở lưu vực sông Hoàng Hà và chủ thể văn hóa là người Hoa – Hạ, đã hình thành nên loại hình văn hóa nông nghiệp đặc trưng của Trung Quốc quốc cổ đại. Trong tư duy của người Trung Quốc cổ đại thì Hành thổ (tức Đất) được xem là trung tâm của trời đất, là cái nôi sinh ra vạn vật và sự tồn tại của loài người, cho nên khi sống con người dựa vào đất để khai hoang lập nghiệp để tồn tại, phát triển và khi chết con người lại trở về đất như là một sự tuần hoàn. Bởi vậy, thổ táng đã được người Trung Quốc sử dụng từ xưa cho đến nay như là một nghi thức không thể thiếu của vòng đời người. Theo các nhà sử học Trung Quốc (tham khảo sách Trung Quốc Văn Hóa Sử) thì phong tục tang ma của người Trung Quốc được cử hành theo 17 nghi thức sau:

Phủ liễm (đình thi): người chết được bỏ hết quần áo và đặt bên cửa sổ phía Nam rồi đắp một loại chăn liệm đặc chế.

Phục hồn (chiêu hồn): người nhà gọi hồn người chết bằng cách lấy áo cũ của người đã mất chạy ra cửa phía Bắc (đại diện cho u giới, thế giới linh hồn) gọi tên người chết “hãy quay về đi” 3 lần, sau đó đem áo này mặc lại cho người chết (mang hình thái tín ngưỡng cổ – níu kéo người chết).

Phụng thể phách tinh thần: Trang điểm cho thi thể (khiết sĩ), để tấm ván cố định ở chân để dễ đi giày (xuyết túc). Sau đó để cơm rượu ở phía đông, sát người chết để cúng quỷ thần.

Điếu Táng: Người thân và bạn bè đến viếng người chết phải khóc to và đưa chăn áo tặng cho người chết (còn gọi là tụy).

Vi minh: Làm một lá cờ (tùy theo thân phận, thứ cấp của người mất) trên viết tên người chết, cắm vào gậy trúc và đặt ở phía Tây trước nhà.

Trần tập sự cập hưu dục, phạn hàm chi cụ: Bày các dụng cụ dùng để tắm rửa, thay quần áo và độ phạn hàm cho người chết.

Hưu dục, phạn hàm, tập thi: Thay đồ, tắm rửa, phạn hàm, mặc ba bộ áo mới “tam xương” cho người chết.

Thiết trùng: khắc ván gỗ ghi tên người chết để tượng trưng cho linh hồn của người chết hay còn gọi là “trùng”.

Vu bốc trạch triệu, táng nhật: Thầy cúng chọn ngày (bằng cách bói mai rùa) và vị trí mộ. Gia chủ đưa đồ cúng ra nơi chôn cất làm lễ trước.

Ký tịch: Buổi tối trước khi hạ táng 2 ngày, chủ nhân lại ở trước linh cữu khóc một lần nữa và thông báo cho mọi người thời gian đưa ma.

Trần tiểu liễn cập điện tiểu liễn soạn: Đặt áo quần của người chết vào quan tài (do người thân tặng). Nam nữ phải bỏ hết trang sức và quấn tóc lên đầu. Đàn ông phải để lộ cánh tay và không ngừng dẫm chân khóc và đưa cơm rượu lên cúng cho người chết. Đêm hôm đó đốt đèn trong sân suốt đêm.

Đại liễm (nhập quan): Từ sáng sớm mọi người đem quần áo dùng cho đại liễm, cơm rượu cỗ cúng và quan tài đặt ở trong nhà. Gia chủ cùng người thần đích thân đặt thi hài người chết vào quan tài trong cảnh thương tiếc.

Thành phục: chủ nhân mặc áo tang và sau đó tiến hành cúng cơm cho người chết.

Chiêu tịch khốc điện: Khách đến viếng và chủ nhân đón tiếp khách trong trạng thái bi cảm khóc thương và khách động viên chủ nhân. Trước hôm an táng 1 ngày chủ nhân chuyên linh cữu đặt ở Tổ miếu và để trần 1 cánh tay vừa khóc vừa nhảy.

Hạ táng: sáng sớm chủ nhân bày cỗ cúng ra ngoài cửa cử hành lễ cúng và công bố lễ vật mọi người đem tặng cho người chết. Sau đó chủ nhân và khách cùng chuyển linh cữu ra mộ và hạ táng. Khi hạ huyệt, chủ nhân nam quay mặt về hướng Tây, chủ nhân nữ quay mặt về hướng đông (không được khóc). Sau khi lấp đất xong chủ nhân mới khóc và nhảy “dõng vô toán”.

Phản khóc cập ngu lễ: Chủ nhân và rước linh vị người chết quay về tổ miếu đặt trên tuẫn cung (linh đường) vừa khóc vừa nhảy (thể hiện sự đau buồn và an ủi người chết một lần nữa).

Phụ tế: đem thần chủ người mất đặt ở vị trí thích hợp trong tổ miếu để hưởng cúng lễ tổ tiên. Sau đó chuyển linh vị người chết về nhà thờ, hết 2 năm (mãn tang) mới được mang về tổ miếu thờ.

Trong sách Nghi lễ của người Trung Hoa do Bùi Quang Tiêu chủ biên (Bùi Quang Tiêu “Nghi Lễ của người Trung Hoa”. NXB. Thanh Hóa. 2007.) có đề cập đến 9 quy trình trong Tang ma của người Trung Quốc như sau:

Tống Chung: Tập quán dân gian của Trung Quốc cho rằng, phàm người nào sống đến 60 tuổi trở lên đã được coi là thọ, nếu chết đi thì được gọi là “Hỷ tang”, cũng là “bạch hỷ sự” . Đối với những người chết gia này, những người thân trong gia đình đã có chuẩn bị trước về mặt tâm lý cũng như phương diện vật chất.

Trước lúc người thân lâm chung, con cháu phải luôn ngày đêm túc trực bên cạnh trông coi, gọi là “Tống chung”. Lúc người thân sắp hấp hối, người trong gia đình dời người bệnh từ phòng ngủ ra trước giường ván đã được đặt sẵn ở chính đình. Người nam sẽ đặt ở chính tẩm, phía bên phải. Nếu là nữ đặt ở nội tẩm, ở bên trái. Phải dời người sắp chết ra trước chính đình, vì tục lệ cho rằng chính giữa nhà là nơi tốt nhất mà họ có thể yên lòng nhắm mắt. Người xưa tin rằng, nếu người ta chết trong giường ngủ của mình, thì linh hồn sẽ bị treo ở trên giường, không được siêu độ. Ngoài ra nếu người chưa thành niên mà chết yểu, tuy không được rời ra đặt ở chính đình, nhưng cũng phải dời họ đặt nằm ở dưới đất trước giường.

Tiếp đến là “Thụ hồn bạc”tức gần chân người chết sẽ phải cúng “Cơm dưới chân”, đốt giấy tiền vàng bạc và thắp nến, ấy là để họ có thức ăn và lộ phí

2.Sơ chung: Thi thể người chết được đặt nàm trên chiếc chiếu trong nội đường, đây gọi là “Hạ tháp”, nằm trên linh sáng. Phải đặt màn trướng ở ngoài. Tạm thời vẫn chưa lập linh vị. Lúc này thi thể phải nằm đầu hướng ra ngoài, ở dưới chân có đặt một chiếc đại hoặc chén bát nhỏ trong đó có đựng dầu để thắp bấc đèn. Đây gọi là ngọn đèn của người chết, gọi là “trường minh đăng”. Cách làm này dựa theo tập tục của dân tộc Trung Hoa, vì họ cho rằng làm như thế có thể tận trung chữ hiếu. Xưa có cách nói “Thọ chung chính tẩm”, tức là đặt thi thể trên linh sàng. Sau khi chính tẩm, người nhà sẽ phát giấy báo tang cho thân bằng quyến thuộc, đồng thời bàn bạc về việc lo hậu sự cho người chết.

Tiếp theo là “Phục lễ”, chiêu hồn. Người nhà sẽ lên mồ mả tổ tiên để gọi người chết hu vọng rằng “Phục lễ” gọi được hồn người chết trở về.

Tiếp đến là “Sơ khốc”, bắt đầu khóc than, xác nhận một điều rằng người thân của mình đã thực sự lìa khỏi trần thế. Đây là biểu hiện về nỗi đau thương.

3.Nhập liệm: Còn gọi là Trang liễm, đặt người chết vào trong quan mộc. Là thời gian chờ để đặt người chết vào quan tài. 3 ngày sau khi mất gọi là Tiểu Liễm, năm ngày là Đại liễm

Sau lễ nhập liệm là “thủ linh” còn được gọi là “Hộ lĩnh” lúc này con cái sẽ túc trực bên người chết để đợi đến khi nhập quan

4. Báo Tang: Báo tin nhà có người thân mất để cho họ hàng làng xóm biết và đến phúng viếng.

5. Thành phục: Con cháu trong nhà mặc đồ tang. Trung Quốc có lỗi nói “tuân lễ thành phục”. Chế độ ngũ phục truyền thống không chỉ được áp dụng trong mai táng mà còn là mục tiêu giới định về mối quan hệ gần xa của thân bằng quyến thuộc. Vào thời đại Chu Tần. nó đã cơ bản được định hình.

Khi người thân mất, việc đội tang phải theo một lễ chế nghiêm ngặt, không được có sự sai sót. Thành phục là một “Nghi lễ” cơ bản, tùy vào mối quan hệ với người chết mà mặc trang phục. Nhìn vào tang phục cỏ thể biết được mối quan hệ của người tang với người chết

Không chỉ giải thích rõ mối quan hệ nội bộ trong giới gia tộc mà nó còn quy định một cách thành tục về quyền lợi và nghĩa vụ giữa họ. Giả sử là cha con, ngũ phục thuộc loại “Trầm suy”, sử dụng loại vải thô nhất có viền lông, phục tang ba năm, đồng thời họ cũng là người có quyền thừa kế di sản của người chết. Do các mối quan hệ là rất rộng lớn nên phục tang cũng rất phức tạp, vừa tinh tế mà phải tỉ mỉ.

6. Phúng điếu: Khổng Tử nói : “Tang chi dĩ lễ, tế chi dĩ lễ” nghĩa là khi có tang lễ ở mỗi gia đình, phúng điếu cũng được xem là nội dung quan trọng. Lễ số và phương thức phúng điếu cũng có nhiều khác biệt.

Tất cả những người chí thân khi vừa nhận được cáo phó, phải kịp thời đến với tang gia ngay. Những người thân thuộc loại “Trảm suy” như con trai, con dâu, con gái, con rể,.. sẽ gác mọi công việc nhà lại, vội vàng đi bôn tang. Khi gần đến tang gia phải “Vọng hương nhị ca”, tức là khóc thương thảm thiết. Người con gái đã lấy chồng vừa đi vừa phải khóc trên đường, đến nơi phải quỳ khấu trước linh đường mà khóc than đợi khi có người đến an ủi mới được ngưng khóc. Những thành viên khác trong thân tộc có mối quan hệ gần gũi thân thiết, tuy không đau thương bằng con cái của người chết, nhưng cũng phải biểu hiện rõ nỗi buồn thương cực độ của mình.

Khi thân bằng quyến thuộc đến phúng điếu, người đội tang chí thân nhất phải đến quỳ bái mà nghênh tiếp rồi mới về hầu cạnh linh đường, lúc đó cũng kèm theo nghi trượng cổ nhạc. Người đến phúng điếu, trước tiên khấu đầu 4 lần trước linh cữu, sau khi tang gia trả lễ xong đến trước phòng giao lễ. Ở một số nơi nếu người phúng điếu không phải là người chí thân của người chết hoặc trưởng bối của người chết thì chỉ cần đốt vài tờ tiền giấy trước linh đường là được.

Thân hữu đến phúng điếu phải mang theo lễ phẩm hay lễ kim. Lễ phẩm gốm biển ngạch, văn liên, hương chúc, giấy tiền… và đó cũng có thể là tấm văn chương. Bất luận chất liệu vải của văn chương như thế nào, màu của nó nhất thiết phải là xanh, xanh lam hay màu trắng, phía trên có dòng chữ trắng sáng “Anh oanh thiên cổ”, …

Nếu lễ vật là ngân kim phải dùng giấy màu vàng hay xanh lam bao gói kỹ càng, ghi rõ số lượng. Hầu hết bây giờ đều là đưa trực tiếp cho tang chủ để tránh sự sai sót.

7. Tiếp Tam: Truyền thuyết dân gian xưa cho rằng, sau khi chết được 3 ngày, linh hồn sẽ chính thức xuống địa phủ. Cũng có thể sẽ được thần, Phật hay sứ giả của thần Phật là Kim Đồng Ngọc Nữ đón đi. Ai cũng đều muốn người thân của mình sẽ được lên trời, nhưng muốn được như vậy thì lúc còn sống họ phải tích nhiều công đức.

Nhưng dân gian cho rằng, sau khi chết qua 3 ngày, khi linh hồn của họ đã rời khỏi xác, mời Tăng nhân đến làm lễ tụng kinh sám hối, tích đức chuộc tội, người chết sẽ được lên thiên đàng. Do vậy đã hình thành phong tục “Tiếp tam”, con cái của người chết mong muốn đưa người thân lên Tây thiên, do vậy còn được gọi là “Tống tam” hay “Nghênh tam.” Muốn đưa người thân lên Tây thiên tất nhiên phải cần có xe, ngựa. Những thứ này được làm bằng giấy, tục gọi là “Bảo mã tố xa”, có nơi làm rất công phu. Ngoài ra còn có tủ rương để đựng hành trang và những vật dụng khác.

Thời giờ làm lễ tống tam thường là vào lúc chiều tối, Tăng chúng niệm kinh lễ Phật, có người cổ nhạc hát theo, đồng thời cũng còn có hàng loạt những tục nghi khác. Sau đó ngựa xe sẽ được con cái của người chết đưa ra cửa, đem đốt ở một địa điểm hướng tây của ngôi nhà.

8. Phát dẫn: Phát dẫn, hạ tang là nghi tục khi tang lễ sắp kết thúc. Theo tục lệ cổ xưa, nếu tang lễ quá dài, thi thể sẽ không được bảo tồn cho đến lúc chôn, người sống cũng sẽ rất vất vả lo toan tất bật. Do vậy xuất hiện các lễ “Khát táng”, “Huyết táng”, tức nội trong 7 ngày phải đem đi chôn. Kỳ hạn ngừng tang cụ thể không giống nhau, nó liên quan đến địa vị xã hội, kinh tế, chính trị,..,Mọi người sẽ dải tiền vàng, nhất là lúc qua cầu, qua đường như lộ phí để đi đường.

9. Cư tang: Bản chất của việc cư tang là sự hiếu đạo là thân tình của người thân với người đã khuất. Trong khoảng thời gian người thân mất, con cháu phải ngừng lại các mặt sinh hoạt bình thường để thể hiện nỗi bi thương, tư niệm người quá cố. Truyền thống xưa quan niệm rằng: lúc mới sinh ra, con cháu ba năm đầu luôn trong vòng tay ôm ấp của cha mẹ, được chăm súc, mớm bú,.. Do vậy khi cha mẹ mất đi, phải báo hiếu 3 năm. Với những người làm quan tại triều đình, họ sẽ được nghỉ phép dài hạn để về nhà cư tang khi cha mẹ mất.

Như vậy, sau khi an táng xong, người Trung Quốc có phong tục để tang cho người đã khuất, tùy theo mối quan hệ thân sơ, từ 1 tháng cho đến 3 năm. Trong vòng thời gian để tang người sống tiếp tục thực hiện một số nghi thức khác tùy theo quan niệm của từng thời kỳ hay ảnh hưởng của các tôn giáo như: Đời Thương mở đầu hình thức tuẫn táng (chôn người sống theo); đời Hán, Tấn, Nam Bắc Triều đã lưu hành tiền giấy, đốt nhà giấy, hòm giấy; khi Phật giáo du nhập vào thì hình thành nghi thức cúng Trai thất, Chung thất; hay các phong tục cúng khác như: cúng 100 ngày, tiểu tường (giỗ đầu), Đại tường (hết tang)…

Một số đặc điểm tiêu biểu trong may chay của người Trung Quốc

Về Tang phục:

Phong tục đám ma của người Hoa trong kho tàng văn hóa Trung Quốc có quan niệm về trang phục và màu sắc để thể hiện từng bối cảnh, ý nghĩa khác nhau. Đối với Tang ma ở Trung Quốc có 5 loại và mỗi loại có các hình thức khác nhau để biểu thị mối quan hệ giữa người đã khuất với người còn sống như sau:

– Trảm thôi (đại tang – Tang 3 năm): là loại cao nhất trong tang phục, với chất liệu là vải gai thô, không khâu mép vải để lộ chỗ chém đứt để may áo; dùng “tư điệt” (dây lưng bằng gai thô) quấn chặt phần dưới thân; tay cầm “trượng khốc tang bồng” (gậy bằng trúc không cạo vỏ – biểu thị đau thương không thể đứng thẳng phải dùng gậy chống); chân đi giày cỏ “gian cục” và đầu đội “quan thằng anh” (loại mũ dùng dây gai quấn lại). Người mặc trảm thôi trong 3 năm để chịu tang thì được xem là “hiếu tử”. Sách Thanh hội quy định: “Trảm thôi chủ yếu dùng để con trai, con gái và con dâu mặc để chịu tang cha mẹ. Nếu không có con trai thì cháu hoặc chắt đích tôn phải thay hoặc vợ và thiếp để tang cho chồng”.

– Tư thôi (cơ niên – tang 1 năm có chống gậy): Dùng vải gai thô nhưng viền mép đều và chống gậy trúc cạo nhẵn, hạn dùng trong 1 năm.

– Đại công (tang 9 tháng): Vải gai mịn đã qua gia công, màu ngà, hạn mặc trong vòng 9 tháng.

– Tiểu công (tang 5 tháng): vải gai mịn hơn, màu trắng, hạn mặc trong 5 tháng, là tang phục của anh em trai.

– Ti ma (tang 3 tháng): may bằng vải tinh chế màu trắng, hạn mặc trong 3 tháng (loại nhẹ nhất trong ngũ tang phục).

Thời hạn để tang đối với những người có quan hệ gần được quy định như sau:

Tang phục cũng có sự thay đổi không ngừng trong các triều đại Phong kiến và có sự phân biệt tầng lớp, xa gần. Tuy nhiên đều lấy màu trắng là màu chủ đạo và thể hiện lễ chế tông pháp “trọng nam, trọng đích”.

Phong tục tuẫn táng và đồ tùy táng

Kinh dịch Nho giáo cho biết về thời thượng cổ người chết cứ để vậy đem chôn, không biết đến phần mộ, quan quách. Trải qua các triều đại, việc chôn cất và mai táng người chết có nhiều hình thức. Đáng kể nhất là đời nhà Chu (1.122 trước Tây lịch) có một duy định khi họ chết đi thì tất cả những vật dụng quý giá của họ khi còn sống kể cả thê thiếp, thuộc hạ được sủng ái cũng đều phải chôn theo. Về sau tục lệ vô nhân đạo này đã được bãi bỏ để thay vào đó là Sô linh (người bện bằng cỏ). Năm Nguyên Hưng nguyên niên (105) đời Hán Hoa, ông Thái Lĩnh tìm ra được cách làm giấy bằng vỏ cây dó, giẻ rách… Bắt đầu từ khi có giấy, ông Vương Dũ nghĩ đến việc biến chế vàng bạc, áo quần… bằng giấy thay cho đồ thật để đốt đi sau khi cúng kính.

Theo nhà tư tưởng Vương Dư đời Đường cho rằng: “Từ thời nhà Hán, đã có tục chôn tiền và đời sau lấy giấy thay tiền”. Theo niềm tin thuần phác của người Trung Hoa ở vào thời cổ đại thì, người ta tin rằng, người chết không phải là mất hẳn mà biến thành quỉ (nhân tử viết quỉ – Nguyễn Tôn Nhan, Kinh Lễ, Thiên Tế pháp, NXB. Văn Học, 1999, tr.192 ). “Quan niệm nhân tử viết quỉ” được hình thành từ thời Ngũ đại (khoảng hơn 2000 năm trước Tây lịch) Từ quan niệm này, người ta tin rằng, người chết cũng như người sống, tức sự sinh như sự tử. Những gì mà người ta lúc còn sống tiêu xài như thế nào, thì khi chết cũng cần đến như thế đó. Do tin tưởng như vậy, nên sau khi chết đi, thân nhân của người chết họ chôn theo những vật dụng cần thiết kể cả tiền bạc để cho người chết tiêu xài. Đây là họ biểu lộ mối thâm tình sâu đậm khi sống sao thì lúc chết cũng như thế.

Theo các nhà khảo cổ, họ đã khám phá từ những cuộc khai quật và đã xác quyết điều này. Nhưng về sau, người ta thấy rằng, việc chôn theo các đồ vật dụng và tiền bạc thiệt, thì quá lãng phí, cho nên dần dần người ta mới bày ra cách sử dụng những đồ vật dụng và tiền bạc làm đồ giả, giấy giả, để cho người chết tiêu xài.

Giải mã biểu tượng và các kiêng kỵ cần biết

  1. Giải mã một số biểu tượng

Phương Đông với đặc trưng tư duy tổng hợp biện chứng nên đã sáng tạo ra một kho tàng văn hóa mang ý nghĩa biểu tượng. Để hiểu được ý nghĩa của các biểu tượng đó người nghiên cứu cũng cần phải có kiến thức tổng hợp và đặt nó trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Tang ma là một nghi thức phản ánh thế giới tâm linh của con người sau khi chết, (một thế giới không thể nhìn và nhận biết bằng các giác quan của con người) cho nên các biểu tượng của nó cũng mang ý nghĩa tượng trưng rất cao và có nhiều quan niệm khác nhau. Để hiểu được những biểu tượng tiêu biểu trong phong tục tang ma của Trung Quốc có thể đưa ra các giả thiết sau:

Đốt ba cây nhang, cúng tế điệu niệm: Đốt nhang, bày 1 số trái cây hay những thứ mà lúc còn sống người thân thích ăn, gọi là vật cúng lễ. Đây là một phương thức mà con cháu gửi gắm lòng thương nhớ của mình đối với người đã quá cố.

Tế điện:Tế điện là hình thức dâng những lễ vật, hoa quả đồ ăn, tiền vàng cho người đã mất. Cùng với đó là tuyên đọc tế văn. Đây là một hoạt động trong ngày tiết thanh minh hay trong ngày giỗ của người quá cố.

Lấy áo người chết lên sân thượng hú 3 lần: Vì đã có những trường hợp bị choáng, ngất, bất tỉnh nhân sự. Người ta dùng mọi thủ thuật để kích thích thì hồi tỉnh, trong đó có thuật hú hồn hú vía. Cũng có trường hợp đã tắt thở, tưởng là đã chết rồi nhưng sau một thời gian bỗng nhiên sống lại. Do đó với một hy vọng dầu mỏng manh, mặc dầu trong muôn một, người sống tiếc thương muốn cứu vãn… nên cầm chiếc áo quần của người đã tắt thở, leo lên mái nhà chỗ cao nhất hú “Ba hồn bảy vía ông…” hoặc “Ba hồn chín vía bà…” về nhập xác. Hú ba lần không được mới làm lễ khâm liệm, như vậy hồn đỡ vất vưởng, biết tìm đường về nhà nhận xác.

Màu trắng trong tang phục: dùng màu trắng là màu của phương Tây theo Ngũ hành. Mọi thứ liên quan đến phương Tây đều được xem là xấu. Cho nên nơi để mồ mả của người xưa thường là hướng Tây của nhà. Cũng có quan niệm, màu trắng là màu của nước vào mùa đông (băng) thể hiện sự lạnh lẽo, buồn cảm, bi ai…

Huyệt hình vuông, mộ hình tròn: thể hiện quan niệm “trời tròn đất vuông” của người xưa và chết là trở về với mẹ đất và tiếp tục sống ở thế giới khác.

Đèn 7 ngọn và 9 ngọn: thể hiện tư duy hồn xác của Phương Đông. Nam có 3 hồn 7 vía nên thắp 7 ngọn đèn, Nữ có 3 hồn 9 vía nên thắp 9 ngọn đèn tượng trưng.

Lễ 2 lễ và 4 lễ: khi chưa hạ huyệt thân chủ chỉ lễ hai lễ như người thân vẫn còn sống (hồn, xác) và khi đã an táng xong thì thường lễ 4 lễ (Sinh, lão, bệnh, tử).

Hình nhân thế mạng: từ hình thức tuẫn táng quá dã man, con người đời sau đã sáng chế ra các hình người bằng đất nung, bằng giấy…để tống táng cùng người chết vừa mang tính nhân đạo vừa đỡ tốn kém, lãng phí.

Giấy bản, chè búp, hoa nhài, lá chuối…rắc ở trong quan tài: Các thứ đó đều là những chất hút ẩm và ngăn giữ khí hôi hám khỏi bốc ra ngoài, nhất là thời xưa chết xong chưa mấy ai đã chôn ngay, còn phải sắm đủ lễ vật, tế khí, còn phải xa gần phúng viếng linh đình, còn phải chọn ngày, chọn đất mới làm lễ an táng.

Cúng 7, 49, 100 ngày: Phương Đông quan niệm, chết không phải đi đâu, không phải mất mà về cõi cực lạc (sinh ký tử quy). Nếu chưa được về cõi đó thì đi đầu thai qua kiếp khác (chuyển kiếp). Người chết hồn đi lang thanh nhưng không tự kiếm được thức ăn mà phải nương ở gia đình thân nhân thờ cúng. Chết được 3 ngày được gọi là ngu tế (cúng cơm 3 ngày) mang tư tưởng âm dương biến hóa. Cúng bảy ngày là do quan niệm con người có 7 cơ quan để hấp thụ vật chất, tinh thần mà trưởng thành, cúng tuần 1 là giải 1 vía, muốn giải 7 vía phải cúng trong 7 tuần tức 49 ngày (chung thất – hết 7 tuần). Cúng hết 7 tuần là người mất qua được 7 cửa cung cõi âm. Cúng 100 ngày để qua cửa thứ 8, cúng tiểu tường qua cửa số 9 và đại tường là qua cửa số 10 (quan niệm về 10 tầng địa ngục mà người chết phải đi qua). Đến đây thì hồn được chuyển luân hoặc siêu thăng hoặc đầu thai kiếp khác. Con số 7 còn chỉ vào các ngôi sao (các vị tinh quân): mặt trời, mặt trăng, kim, mộc, thủy, hỏa, thổ, mỗi cung gồm 7 bộ (tức 49). Như vậy số 49 là số đại diện bao hàm cả lưỡng nghi, tứ tượng, bát quái của đại vũ trụ (thế giới) và tiểu vũ trụ (con người).

Chỉnh tu lăng mộ: Thường là việc bồi đất và chỉnh tu mộ đạo. Do chịu mưa nắng, gió bão nên cần phải tu sửa. Trước kia chỉ có chôn cất chứ không có hỏa táng.

Trên đây là các loại hình biểu tượng tiêu biểu, ngoài ra trong phong tục tang ma ở Trung Quốc còn có nhiều biểu tượng khác tùy theo phong tục và quan niệm của từng thời kỳ cho nên không thể lược ra hết. Mỗi biểu tượng đều có ý nghĩa của nó và phản ánh rõ nét quan niệm về một thế giới bên kia là có thật của người xưa.

2. Một số điều cần biết trong tang ma

Từ xưa, người Á Đông luôn có con mắt tinh tường trong quá trình tiếp xúc, ứng xử với môi trường xung quanh, nhờ đó đã đúc kết bao nhiêu kinh nghiệm về thế giới tự nhiên, kinh nghiêm sống, lao động và cả những kinh nghiệm sau khi chết. Tiêu biểu như:

– Cắm một cái cọc bằng kim loại suốt chân giường người chết hoặc để con dao trên đầu (bụng) người chết để trừ ma quỷ quấy phá.

– Khi chưa nhập quan, luôn luôn thắp hương nến (nếu không có nến thì thắp ngọn đèn dầu) cho đến khi hạ huyệt không để tắt hương đèn để xua đuổi tà khí.

– Hai bên hương án, phía gần kề áo quan, người ta đặt hai cây chuối con để trừ tà khí.

– Dựng bó đuốc to ở giữa sân vào ban đêm trước lễ an táng (nếu để qua đêm), con cháu và thân nhân túc trực quanh linh cữu (lễ “Chúc thực” ban đêm, nghĩa là “lễ trồng bó đuốc”) để xua đuổi tà ma (quan niệm ma sợ lửa).

– Khi thi thể co cứng lại thì cần hơ lửa và nắn hoặc dùng cồn, rượu xoa bóp, nếu vẫn còn cứng lại thì có thuật dùng hai chiếc đũa cả để hai bên mép áo quan rồi cho thi hài lọt xuống dần, khi thi hài dã lọt vào áo quan rồi thì phải cắt bỏ những dây buộc chân, buộc tay, buộc vai, buộc mông để người chết có thể nằm thoải mái.

– Sau lễ nhập quan phải đốt lỗ hung (lỗ đào ở chính giữa giường người mới chết nằm khi chưa nhập quan. Chất đốt có thể dùng trấu, than , củi hoặc giẻ rách…). Dùng khói lửa, ánh sáng mặt trời (đốt hương, nến, đèn, đuốc, than, trấu, dỡ mái nhà, mở rộng cửa, đào lỗ hung, đốt pháo…) để triệt tiêu hơi lạnh.

Đối với những ngôi mộ không có tử thi, hài cốt, mộ người chết trận, chết đuối hay do thú dữ vồ… không tìm được tử thi. Thân nhân làm hình nhân và làm lễ “Chiêu hồn nạp táng” an táng theo như lễ an táng thông thường. Dùng gỗ hoặc đất sét gọt đẽo nhào nặn thành hình người kích thước của hình nhân khoảng 30-40 cm chiều dài. Thi hài tượng trưng đó cũng được khâm liệm, đưa vào áo quan làm bằng gỗ vàng tâm, hoặc đưa vào tiểu sành. Trên hình nhân có phủ lên linh vị viết trên giấy kim tuyến, nội dung giống như linh vị đặt ở bàn thờ. Trước khi làm lễ an táng có mời thầy cúng làm bùa ấn phù phépđể vong hồn nhập vào hình nhân.

Đối với những người đến dự lễ tang, nhất dự khâm liệm cần có những phương thuật để phòng chống hơi lạnh như ngậm gừng sống, uống nước lá nhót, ăn trầu và xông khói vỏ bưởi, bồ kết trước và sau khi đến lễ tang.

Một số điều kiêng kỵ trong Đám tang

Nghĩa tử là nghĩa tận, cho nên người phương Đông rất coi trọng chuyện tổ chức tang lễ. Khi gia đình có tang hoặc đi dự đám tang, chúng ta cần tìm hiểu một số điều kiêng kỵ trong tang ma theo quan niệm của người Phương Đông như sau:

Kỵ để người đã khuất ở trần: Người phương Đông thường rất kĩ tính trong nghi thức khâm liệm. Gia đình phải chuẩn bị sẵn quần áo đẹp cho người mất, kỵ để người đã khuất ở trần trong đám tang. Thường thì người già đến một tuổi nào đó hoặc sức khỏe yếu sẽ dặn dò con cháu chuẩn bị sẵn áo liệm. Áo liệm thường được chuẩn bị theo số lẻ: 3 cái, 5 cái, 7 cái… Vì theo quan niệm dân gian, số chẵn sẽ làm tai họa ập đến gia đình một lần nữa. Áo liệm được làm bằng lụa, kỵ dùng vải gấm hoặc sa tanh với mong muốn ban phúc cho con cháu. Đặc biệt, áo liệm không được làm từ da và lông do quan niệm rằng, nếu để người đã khuất mặc áo liệm bằng da và lông thì kiếp sau sẽ đầu thai thành động vật.

Kiêng để chó, mèo nhảy qua xác người chết: Trong đám tang, thi thi hài chưa được đặt vào quan, người thân thường phải cử nhau coi giữ ngày đêm. Ngoài mục đích để thể hiện lòng thương tiếc thì điều này còn nhằm tránh chó mèo nhảy qua xác người mất, tránh hiện tượng quỷ nhập tràng (tức là người chết bật dậy để bắt người).

Kiêng để nước mắt nhỏ vào thi hài người chết: Từ xa xưa người Phương Đông cho rằng trong quá trình khâm liệm, con cháu dù thương tiếc đến đâu cũng không được để nước mắt nhỏ vào thi hài người chết để tránh người đã khuất lưu luyến, ra đi không thanh thản. Người trực tiếp thực hiện cũng không được khóc khi đang tiến hành các thao tác khâm liệm. Do đó, tại một số gia đình, trong đám tang việc khâm liệm người chết không được giao cho vợ, chồng hoặc con cái người đã khuất làm.

Kỵ dùng gỗ cây liễu để làm quan tài: Bởi cây liễu không có hạt, sợ đời sau không có người nối dõi. Chất liệu tốt nhất để làm quan tài là gỗ cây tùng hoặc cây bách.

Chọn ngày tổ chức đám tang và vị trí chôn cất: Thông thường, trong quan niệm của người Trung Quốc, khi có người mất phải xem ngày, xem giờ và vị trí chôn cất để tránh những điều không may xảy ra. Vị trí của mộ tốt hay xấu có thể ảnh hưởng đến con cháu đời sau. Có một số điều kiêng kỵ khi chọn vị trí chôn cất như: Không được chôn cất ở nơi có tảng đá lớn, không chôn cất ở nơi có bãi cát và nước chảy xiết, không chôn cất ở kênh rạch và nơi hoang vắng, không chôn trên đỉnh núi cô độc, không chôn xung quanh đền, chùa, miếu, không chôn gần nhà tù, không chôn nơi đồi núi hỗn loạn, không chôn nơi phong cảnh u sầu, không chôn nơi ẩm ướt hoặc địa hình không ổn định…

Kiêng đi nhanh khi khiêng linh cữu: Người xưa quan niệm phải làm sao giữ cho thi hài của người chết được nằm yên, cho nên khi khiêng linh cữu cần phải nhẹ nhàng, cẩn thận. Thậm chí, những người khiêng linh cữu phải cố tình đi thật chậm để thể hiện sự lưu luyến với người đã khuất.

Cấm kỵ sau khi hạ huyệt: Sau khi hạ huyệt người đã khuất, những người đưa tang khi ra về cần tuyệt đối tránh quay đầu lại. Bởi theo quan niệm dân gian, nếu người đi đưa tang quay đầu lại linh hồn người đã khuất theo người sống về nhà.

Kiêng kỵ khi thờ người mới chết: Sau đám tang, những người mới chết thường kiêng không thờ chung tại bàn thờ gia tiên mà lập một bàn thờ riêng chỉ gồm một bát hương, một bộ đài, một vài lọ hoa, bài vị và ảnh thờ. Lập bàn thờ riêng này nhằm thuận tiện cho việc cúng bái hàng ngày và hàng tuần từ sơ thất đến thất thất. Mặt khác, theo quan niệm xưa thì người mới mất thân thể chưa bị phân hủy nên không thờ chung ở bàn thờ tổ tiên.

Tránh đi thăm bạn bè họ hàng trong thời gian để tang: Gia đình có đám tang thường là biểu hiện của điềm không may, vì vậy người trong nhà nên tránh đi thăm bạn bè họ hàng trong thời gian để tang. Đặc biệt trong những ngày Tết, vợ chồng con cái của người mới mất nên hạn chế đi chúc tết, đặc biệt kiêng đến những gia đình có người bị bệnh.

Kiêng động cuốc, thuổng vào mộ trong vòng cư tang: Sau đám tang ba ngày, người ta sẽ đắp mộ kỹ lưỡng trong khi làm lễ mở cửa mả. Sau lễ này, kiêng không đắp mộ, động cuốc hoặc động thuổng trong vòng tang. Tục lệ này là để tránh mồ mả bị sập, bị động trong thời gian áo quan và thi hài đang tan rữa. Con cháu khi đến mộ thắp hương chỉ được lấy đất đắp vào những chỗ sụt lở, kiêng trèo lên mộ hay động cuốc thuổng vào mộ.

Kiêng lấy vợ, lấy chồng khi đang để tang cha mẹ: Việc để tang, kiêng lấy vợ hoặc chồng trong thời gian gia đình có tang nhằm tỏ lòng kính trọng, thương tiếc người đã khuất. Thời gian để tang theo quan niệm xưa là 3 năm. Nhưng ngày nay, việc kiêng cữ không còn kỹ lưỡng như trước. Một số gia đình có thể lấy vợ, gả chồng cho con sau giỗ đầu.

Kiêng để ánh sáng mặt trời soi trực tiếp khi cải táng: Thông thường, các gia đình thường xem ngày, giờ để cải táng (sang cát). Việc cải táng luôn được thực hiện về đêm để tránh ánh sáng mặt trời vì có nhiều trường hợp thi thể sau nhiều năm vẫn còn nguyên vẹn, nếu để ánh sáng mặt trời chiếu vào, thi thể sẽ rữa ngay và teo lại.

Trên đây là 12 điều kiêng kỵ trong đám tang theo quan niệm của người xưa. Mặc dù nhiều điều không hoàn toàn đúng theo cách nhìn nhận khoa học biện chứng, nhưng vì tang lễ là một hoạt động tâm linh nên chúng ta cần hiểu và tôn trọng, tránh những hành động bất kính trong đám tang. Ngoài ra còn nhiều hình thức kiêng kỵ và phong tục rườm rà khác mang màu sắc tâm linh huyền bí đã được người phương Đông sử dụng như một hình thức để người còn sống được bình an và người mất cũng được phần mát mẻ.

Ảnh hưởng của phong tục tang ma ở Trung Quốc và các nước lân cận

Có thể nói trong suốt chiều dài lịch sử của Trung Quốc trải qua các thời đại phong kiến, những thăng trầm, biến đổi trong lịch sử, nhưng trong văn hóa tang ma của người Trung Quốc vẫn giữ được bản sắc của nó. Ngoài hình thức thổ táng của văn hóa Hán ra, còn có nhiều hình thức an táng khác như:

Thủy táng hay thuyền táng…: Chủ yếu là các dân tộc vùng sông Trường Giang, phía Nam Trung Quốc. Do môi trường sông nước, thế nước ngập và quan niệm sống nhờ nước và chết về với nước.

Hỏa táng: phổ biến ở vùng đất phía Tây của Trung Quốc do ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ, cụ thể là ảnh hưởng Hỏa giáo – một phong tục thờ lửa cổ xưa của Ấn Độ. Quan niệm lửa luôn bốc lên trên (tức thiên đường), cho nên khi hỏa táng người mất sẽ nhanh được lên thiên giới.

Không táng: Đây là hình thức an táng do cư dân ở vùng núi cao, gần các vách núi sáng tạo ra, là hình thức để người chết tại các hang đá hay treo lơ lửng trên các cây cao để xác chết tự phân hủy hoặc khô cứng lại.

Điểu táng hay Lâm táng: là hình thức an táng của người Tây Tạng và một số tộc người thuộc vùng núi có địa thế hiểm trở, chất đất cứng cho nên khó có thể đào hố để chôn và trong tâm thức của họ bởi ảnh hưởng của Phật giáo xem xác thân này chỉ là giả tạm, có hợp có tan không nên cố chấp. Cho nên họ chết một cách thoải mái và được các vị Thầy của họ hướng dẫn đi đầu thai ở các kiếp khác còn thân xác thì bố thí cho các con kền kền hoặc hổ beo…

Qua quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa cả mặt cưỡng bức và tự nguyện, phong tục Tang ma nói riêng và nhiều nét văn hóa khác của Trung Quốc nói chung đã có tầm ảnh hưởng lớn đối với văn hóa phong tục của các nước lân bang như: Việt Nam, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản… Về cơ bản, trong nghi thức Tang ma hiện nay ở những nước ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc vẫn duy trì 6 hình thức cơ bản:

Lễ Mộc Dục : Tắm gội và mặc quần áo mới cho người chết.
Lễ phạm hàm : Bỏ gạo và tiền vào trong mồm người chết để tránh tà ma đến cướp đoạt, tiễn vong hồn người chết đi đường xa không bị đói.
Lễ Khâm Liệm (nhập quan) : Đưa thi thể vào quan tài.
Lễ thiết linh : Đặt linh vị lên bàn thờ tang và bày các cỗ cúng.
Lễ thành phục : Nhận khăn và trao lại cho con cháu
Lễ an táng : Sau khi hoàn tất việc phúng viếng thì tiến hành di dời quan tài tới nơi chôn cất và an táng.
Ngoài 6 hình thức trên, sau khi an táng một số nước vẫn duy trì các hình thức khác như: mở cửa mả, cúng thất, cúng 49 ngày (chung thất), cúng 100 ngày (bách nhật), cúng giỗ đầu (tiểu tường), cúng mãn tang (đại tường) và các kỳ cúng giổ hằng năm. Tùy theo phong tục và các quan niệm không giống nhau mà có những điều kiêng kỵ khác nhau.

Về cơ bản, các nước chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Quốc đều có chung cùng một quan điểm về thế giới tâm linh “chết là không hết” mà trở về với tổ tiên hoặc đi chuyển kiếp khác và người mất vẫn có mối liên hệ với người sống cho nên trong nghi thức tang ma cần phải tuân thủ các quy tắc, các điều kiêng kỵ . Nhưng ở mỗi nền văn hóa lại có sự sáng tạo mang tính đặc trưng riêng khác với văn hóa tang ma cổ truyền Trung Quốc như ở Việt Nam có phong tục cúng bát cơm quả trứng (bát cơm thể hiện đất, đũa bông là cây vũ trụ hay còn gọi là trời và quả trứng thể hiện cho tư duy phồn thực mong muốn sự sinh sôi nảy nở hay chuyển kiếp của người đã khuất); phong tục để 2 cây chuối ở hai bên linh sàng để đẩy tà khí hay để lá bài tổ tôm trong quan tài để xua đuổi thần trùng, bảo vệ người chết… Sự khác biệt này là do sự thích nghi của con người với môi trường của từng vùng miền và sự nhìn nhận khách quan về thế giới bên kia. Nhưng vì câu nệ vào tục Tàu nên các nghi thức trở thành rườm rà, tốn kém, trọng hình thức mà giả tạo.

Tang ma ngày nay còn có sự đa dạng hóa về loại hình, nếu xưa kia ở Trung Quốc xem Thổ táng là hình thức phổ biến thì ngày nay có nhiều hình thức tang ma khác như: Thủy táng, không táng…và nhất là Hỏa táng. Mỗi hình thức lại có những đặc trưng tang ma tương đối khác nhau, nó cũng thể hiện quá trình giao lưu tiếp biến không ngừng của văn hóa trong tang ma và quan niệm về cái chết hay thế giới bên kia từng thời đại.

Ngày nay phong tục ma chay của người Trung Quốc được tổ chức gọn gàng hơn: Hồn bạch, thể kì, minh tinh được thay bằng tấm ảnh chân dung người chết, Linh cữu được chở bằng xe hơi. Nhiều nghi thức, hủ tục bị xoá bỏ (thương vay khóc mướn, lăn đường, cờ quạt rầm rộ, kèn trống ầm ỹ). Tục đốt vàng mã vẫn còn, thậm chí còn gia tăng ở một vài nơi (Đua nhau vén tay áo sô đốt nhà táng giấy, đốt xe hơi, tủ lạnh, giấy tiền đô la…) Thời hạn để tang được rút ngắn. Mồ mả xây đắp cẩn thận hơn, không cần phải cải táng. Nhiều gia đình cho thiêu xác, giữ tro để thờ tại chùa…

(anhdaotamduong.wordpress.com)

Xem thêm:

11 Th6

Cách ăn uống của người Trung Quốc đầy thú vị

Hình ảnh Cách ăn uống của người Trung Quốc đầy thú vị 1
Rate this post

Cách ăn uống của người Trung Quốc có đặc điểm gì nổi bật. Người Trung Quốc thường ăn gì? Tìm hiểu về phong tục ăn uống của người Trung.

hinh-anh-cach-uong-cua-nguoi-trung-quoc-day-thu-vi-1

Văn hóa là một trong những nét đẹp truyền thống của Trung Quốc. Sự đa dạng trong văn hóa ẩm thực Trung Hoa khiến cho những tín đồ đam mê ăn uống không thể bỏ qua. Hôm nay, cùng tiếng Trung THANHMAIHSK đi tìm hiểu về cách ăn uống của người Trung Quốc nhé!

Tìm hiểu văn hóa ẩm thực Trung Quốc

Đặc điểm ăn uống của người dân Trung Quốc ở một số vùng

a. Sơn Đông

Đứng đầu những trường phái ẩm thực ở của Trung Hoa là các món ăn Sơn Đông. Do đặc thù về vị trí địa lý cũng như là khí hậu riêng, mà Sơn Đông đã hình thành nên một bản sắc ẩm thực riêng độc đáo.

– Đặc trưng: Các món ăn Sơn Đông có đặc điểm là vị nồng đậm, nhiều hành tỏi.

– Món ngon nổi tiếng: Các món ngon nhất phải nhắc tới là canh và nội tạng động vật

b. Quảng Đông

Trường phái Quảng Đông cấu thành từ 3 nơi nổi tiếng đó là Quảng Châu, Triều Châu và Đông Giang. Những món ăn thuộc trường phái Quảng Đông rất đa dạng trong thành phần, được chế biến rất tinh tế và phức tạp, có hương vị dịu nhẹ tạo cảm giác thoải mái cho thực khách.

– Đặc trưng: Rất sành về các món chiên, rán, hầm. khẩu vị thơm giòn và tươi.

– Món ngon nổi tiếng: Lợn quay, tam xà long hổ.

c. Tứ Xuyên

Nổi danh từ rất lâu đời (vào khoảng thế kỉ thứ 3 TCN), được phổ biến rộng rãi nhất trong tám trường phái ẩm thực. Gồm món ăn của các địa phương: Thành Đô và Trùng Khánh.

– Đặc trưng: Ai yêu thích hương vị mặn và cay thì các món ngon Tứ Xuyên là không thể bỏ qua.

– Món ngon nổi tiếng: Nổi tiếng với việc chế biến các món cá, chè, mật ong và hoa quả, đậu phụ Tứ Xuyên.

hinh-anh-cach-uong-cua-nguoi-trung-quoc-day-thu-vi-2

d. Hồ Nam

Ẩm thực Hồ Nam nổi tiếng với 3 thành phần đó là bếp lưu vực Hương Giang, bếp khu vực hồ Động Đình và bếp miền núi Hồ Nam. Trải qua hơn 2000 năm tồn tại và phát triển, trường phái ẩm thực Hồ Nam đã hoàn thiện và khẳng định mình bởi các món ngon độc đáo.

– Đặc trưng: Khẩu vị cơ bản của Hồ Nam là béo, chua-cay, hương thơm và nhẹ nhàng, hơn nữa các món ăn Hồ Nam khá rẻ, mọi người có thể thoải mái thưởng thức.

– Món ngon nổi tiếng: Kho vây cá.

e. Phúc Kiến

Các món ngon Phúc Kiến nổi tiếng bởi sự tinh tế của thực đơn và sự chuẩn bị công phu, cách chế biến đặc biệt. Hình thành trên nền tảng ẩm thực của các thành phố Phúc Châu, Hoan Châu và Hạ Môn.

– Đặc trưng: Nguyên liệu chủ yếu là hải sản, chú trọng vị ngọt chua mặn, thơm, màu đẹp tươi.

– Món ngon nổi tiếng: kim phúc thọ, cá kho khô.

f. Chiết Giang

Gồm các món ăn của Hàng Châu, Ninh Ba, Thiệu Hưng nhưng nổi tiếng nhất vẫn là các món ăn Hàng Châu.

– Đặc trưng: Hương vị ẩm thực Chiết Giang tươi mềm, thanh đạm mà không ngấy.

– Món ngon nổi tiếng: Có tiếng nhất là tôm nõn Long Tĩnh và cá chép Tây Hồ.

g. Giang Tô

Gồm món ăn của các địa phương Dương Châu, Tô Châu và Nam Kinh.

– Đặc trưng: Giang Tô nổi tiếng với các món hấp, ninh , tần. Người Giang Tô chú trọng về đảm bảo nguyên chất nguyên vị , bởi vậy các món ăn ở đây mang hương vị thanh ngọt tự nhiên.

– Món ngon nổi tiếng: Thịt và thịt cua hấp là những món nổi tiếng nhất ở đây.

h. An Huy

Gồm nón ăn của các địa phương của miền nam An Huy, khu vực dòng sông Trường giang và Hoài Hà.

– Đặc trưng:Các ẩm thực gia An Huy có sở trường là các món ninh, hầm và kĩ năng dùng lửa.

– Món ăn nổi tiếng: Đặc sản của An Huy chính là món vịt hồ lô rất nổi.

Trong đặc điểm ăn uống của dân Trung Quốc thì các món ăn của Tứ Xuyên là được phổ biến rộng rãi nhất. Với lịch sử tồn tại lâu đời, nền ẩm thực ở đây đã tích lũy các phương thức chế biến và đưa ẩm thực nơi đây trở thành một nghệ thuật. Món ăn Tứ Xuyên chú trọng đến sắc, hương, vị hình với khá nhiều vị tê, cay, ngọt mặn, chua, đắng, thơm trộn lẫn khéo léo, biến hóa linh hoạt. Không chỉ thế, những món ăn ở đây còn có nhiều kiểu cách đổi mùi vị, phù hợp với khẩu vị của từng thực khách, thích hợp với từng mùa, từng kiểu khí hậu trong năm. Theo đà sản xuất và phát triển kinh tế phồn vinh, các món ăn Tứ Xuyên trên cơ sở vốn có, đã hấp thụ sở trường của các món ăn Nam Bắc, cũng như ưu điểm riêng của các bữa tiệc quan chức và nhà buôn hình thành nên các đặc điểm độc đáo của món ăn Tứ Xuyên mà người ta thường ví von với câu “thực tại Trung Quốc, vị tại Tứ Xuyên”.

Một số phong tục thú vị trong ăn uống của người Trung Quốc

Phục vụ trà sau mỗi bữa ăn là một trong những truyền thống lâu đời nhất của người Trung Quốc. Chủ nhà sẽ luôn giữ cho nước trong chén trà được đầy bằng cách rót liên tục. Hoặc kể cả khi bạn là khách, việc châm thêm nước trà vào cốc là cách để tỏ ra lịch sự và tôn trọng người đối diện.

hinh-anh-cach-uong-cua-nguoi-trung-quoc-day-thu-vi-3

Cách dùng đũa trong bữa ăn cũng là nguyên tắc cần lưu ý. Bạn không được coi đôi đũa như một món đồ chơi bằng cách sử dụng nó để chỉ về nơi khác, hay xoay tròn trong không khí … Tuyệt đối không dùng đũa để bới thức ăn hay cắm lên bát cơm bởi điều này tượng trưng cho cây hương cháy trong ngày tang lễ.

Món mì tượng trưng cho sự trường thọ của người Trung Quốc và thường được đặt hàng nhiều nhất trong ngày sinh nhật. Vì thế, khi ăn mì, bạn nên nuốt hết cả sợi thay vì cắn thành nhiều miếng nhỏ. Ngoài ra việc tạo thành tiếng ồn khi ăn mì cũng không bị coi là bất lịch sự.

Trong các buổi liên hoan, nếu bạn rời đi trong tình trạng “ngà ngà say”, tức là bạn đã có khoảng thời gian vui vẻ và trọn vẹn. Vì thế, việc chúc rượu lẫn nhau là phong tục không thể thiếu, còn người từ chối sẽ bị cho là “yếu đuối”.

Người nào mời đi ăn thường sẽ là người trả tiền. Việc tranh trả tiền có thể xem như hành động xúc phạm và không tôn trọng người mời.

Cơ cấu bữa ăn của người Trung Quốc

Trước hết, tập quán và khẩu vị trong ăn của nguời Trung Quốc giống với tập quán và khẩu vị chung của người châu Á. Trung Quốc là quốc gia lớn thư 3 thế giới với nền văn hoá lâu đời đã tạo nên nghệ thuật ẩm thưc Trung Hoa đa dạng phong phu có rất nhiều nét nổi bật:

* Nghệ thuật ẩm thực: Người Trung Quốc từ xưa đã lấy đạo Khổng là trung tân của mọi suy nghĩ hành động. Nghệ thuật ẩm thực Trung Hoa cũng dựa vào triết lý căn bản của đạo Khổng và thuyết cân bằng âm dương. Theo đó, người Trung Quốc nghĩ rằng con người khẻo mạnh khi trong cơ thể có sự cân bằng âm dương và trong món ăn giữa các loại thực phẩm sẽ có sự tương tác tạo nên mùi vị và giá trị dinh dưỡng, y hoc cho món ăn.

– Theo quan điểm về nghệ thuật ẩm thực Trung Hoa, về cơ bản có 5 vị ảnh hưởng đến cơ quan nội tạng là: vị ngọt ảnh hưởng đến vùng lá lách, vị chua nhẹ ảnh hưởng đến thận, vị chua gắt ảnh hưởng đến gan, vị mặn và hắc ảnh hưởng đến phổi, vị cay và đắng ảnh hưởng đến tim.

– Người Trung Quốc chia thực phẩm thành 3 nhóm: nhóm lạnh (cua, ốc, lươn, baba…), nhóm trung tính (gạo, các loại rau, củ, quả ), nhóm nóng (trâu, bò, trà, cà phê…)

Trung Quốc có kỹ thuật nấu ăn nổi tiếng khắp thế giới, có rất nhiều món ăn đặc biệt và khác nhau. Người Trung Quốc luôn là người cầu kỳ, cẩn thận trong ăn uống từ khâu nuôi trồng, tuyển chọn, chuẩn bị chế biến đến khi chế biến và hoàn thiện món ăn.

– Kỹ thuật phối hợp nguyên liệu và sử dụng gia vị: Người Trung Quốc rất khéo léo trong việc phối hợp nguyên liệu và sử dụng gia vị để tạo nên những món ăn có giá trị thẩm mĩ, giá trị dinh dưỡng và có hương vị rất đặc biệt. Gia vị họ dung cũng có khi ở nguyên dạng nhưng đa số là dạng tổ hợp nhóm một số loại gia vị hợp thành tạo nên ở dạng bột hoặc dạng nước. Khi kết hợp các loại gia vị cũng luôn tuân thủ thuyết cân bằng âm dương.

* Tập quán trong ăn

Cơ cấu bữa ăn của người Trung Quốc: Người Trung Quốc có 3 bữa ăn trong một ngày

+ Bữa sáng họ thường ăn cháo nấu bằng gạo hay một thứ ngũ cốc xay thật nhỏ khi nấu lên giống như cháo. Cháo cũng thường được ăn với rau quả muối hay đậu muối.

Ngoài ra, dầu cháo quẩy, bánh tiêu rắc mè, hay mì sợi cũng được dung trong bữa ăn sang.

+ Bữa tối là bữa ăn chính của người Trung Quốc, nó thường được bắt đầu vào khoảng 5 – 6 giờ tối. Các thành viên ngồi quay quần quanh bàn ăn. Món canh thường được để ở giữa bàn, xung quanh là rau và các món mặn. Mỗi người riêng một bát cơm và họ thường gắp thức ăn cho nhau.

Nếu bạn đang có ý định đi du học hay sinh sống tại Trung Quốc thì đừng quên tìm hiểu về những nét đẹp văn hóa của người Trung Quốc nhé!

Xem thêm:

02 Th5

Những danh nhân văn hóa Trung Quốc nổi tiếng thế giới

Những danh nhân văn hóa Trung Quốc nổi tiếng thế giới
5 (100%) 1 vote

Những danh nhân văn hóa Trung Quốc từ cổ chí kim. Điểm danh các danh nhân văn hóa thế giới của Trung Quốc được nhiều người ngưỡng mộ.

Trung Quốc từ xưa đến nay có rất nhiều người tài giỏi và trí tuệ hơn người. Từ nhiều lĩnh vực, Trung Quốc luôn khiến thế giới phải ngưỡng mộ vì nhân tài vô kể. Trung tâm tiếng Trung THANHMAIHSK xin tổng hợp và gửi đến bạn danh sách những danh nhân văn hóa Trung Quốc vô cùng nổi tiếng nhé!

1. Lão Tử

hinh-anh-nhung-danh-nhan-van-hoa-trung-quoc-noi-tieng-gioi-1

Người ngày nay thường nói: “Lão Tử thiên hạ đệ nhất.” Lão Tử tên là Lý Nhĩ, là nhà triết học và nhà tư tưởng vĩ đại của Trung Quốc cổ đại. Ông là người sáng lập trường phái Đạo giáo. Tác phẩm “Đạo đức kinh” của ông giải thích sự diễn biến của vũ trụ và vạn vật, cho rằng “Đạo sinh nhất, nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật.” Khổng Tử bình luận về Lão Tử: “Long thừa phong vân nhi thượng cửu thiên dã! Ngô sở kiến lão tử dã, kỳ do long hồ.”. Khổng Tử đại ý muốn nói rằng sau khi gặp Lão Tử xong, ông mới cảm thấy mình là người có học vấn kém cỏi.

2. Quỷ Cốc Tử

hinh-anh-nhung-danh-nhan-van-hoa-trung-quoc-noi-tieng-gioi-2

Quỷ Cốc Tử là một nhân vật rất bí ẩn. Theo truyền thuyết, ông là một người thông thiên triệt địa, có kiến thức học vấn sâu rộng người đời không sánh kịp. Một là nhà thần học: Có khả năng chiêm tinh, xem bói bát quái, dự đoán thế sự chuẩn xác vô cùng. Hai là nhà binh học, sáu thao ba lược, biến hóa vô cùng, bày binh bố trận quý thần khó lường. Ba là nhà du học, thấy nhiều biết rộng, xuất khẩu thành thơ. Bốn là xuất thế học, tu thân dưỡng tính, trừ bỏ bệnh tật, kéo dài thọ mệnh. Tương truyền, Tôn Tẫn người nước Tề, Bàng Nguyên và Trương Nghị người nước Ngụy, Tô Tần người Lạc Dương đều là học trò xuất sắc của ông.

3. Gia Cát Lượng

hinh-anh-nhung-danh-nhan-van-hoa-trung-quoc-noi-tieng-gioi-3

Gia Cát Lượng được người đời biết đến là một bậc trí tuệ sáng chói của cổ đại Trung Quốc. Ông nổi danh với “thuyền cỏ mượn tên”, khẩu chiến quần hùng, xem thiên tượng mà biết thế sự. Bất luận là truyền thuyết dân gian hay tư liệu lịch sử thì những câu chuyện về ông đều cực kỳ huyền thoại. Đáng nhắc tới chính là, Gia Cát Lượng từng tự so sánh mình với Quản Trọng, công trạng của đời ông lớn hơn Quản Trọng. Như vậy xem ra, Khổng Minh không thể nghi ngờ là người có khả năng toàn diện mạnh nhất.

Nói về những câu chuyện thần bí thuộc loại hàng đầu thì không ai qua được nhà chính trị Gia Cát Lượng Khổng Minh kiệt xuất thời Tam Quốc.

Nói về những câu chuyện thần bí thuộc loại hàng đầu thì không ai qua được nhà chính trị Gia Cát Lượng Khổng Minh kiệt xuất thời Tam Quốc.

4. Quản Trọng

hinh-anh-nhung-danh-nhan-van-hoa-trung-quoc-noi-tieng-gioi-4

Quản Trọng là nhà kinh tế học đứng đầu của Trung Quốc cổ đại. Người đời sau đã đem những tài năng của ông viết thành sách có nội dung vô cùng phong phú. Là nhà tư tưởng và thiên văn, là người có tri thức về kinh tế và nông nghiệp… Bộ não của ông chính là một bộ bách khoa toàn thư.

5. Khổng Tử

hinh-anh-nhung-danh-nhan-van-hoa-trung-quoc-noi-tieng-gioi-5

Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tự hiệu là Trọng Ni. Ông là nhà tư tưởng lớn, nhà giáo dục lớn, nhà chính trị lớn nổi danh của Trung Quốc. Khổng Tử là người khai sáng tập tục cá nhân dạy học, là người sáng lập Nho giáo. Tương truyền ông có 3000 đệ tử, trong đó 72 đệ tử là người hiền tài. Ông từng được liệt vào “10 đại danh nhân văn hóa lớn Thế giới”. Ngay cả tướng mạo của Khổng Tử cũng rất đặc biệt, đỉnh đầu của ông thấp, bốn xung quanh cao, trán rộng. Người có tướng mạo này trí nhớ chắc chắn siêu phàm.

6. Trương Lương

hinh-anh-nhung-danh-nhan-van-hoa-trung-quoc-noi-tieng-gioi-6

Trương Lương tự là Tử Phòng. Ông là mưu thần quan trọng của Lưu Bang. Ông cùng với Hàn Tín và Tiêu Hà được coi là “Hán sơ tam kiệt” (ba người kiệt xuất thời Hán). Kỳ thực Trương Lương là người “trói gà không chặt” nhưng dựa vào trí tuệ cực kỳ xuất sắc mà trợ giúp Hán Cao Tổ Lưu Bang đoạt được thiên hạ. Khi về già, ông không lưu luyến đại vị mà sống cuộc sống thong dong không màng chính trị, dạo chơi bốn phương. Hán cao tổ Lưu Bang đánh giá về Trương Lương: “Phu vận trù sách duy trướng chi trung, quyết thắng vu thiên lý chi ngoại, ngô bất như tử phòng.” (Ý Lưu Bang muốn nói về trù tính sách lược, ông không bằng được Trương Lương).

7. Khang Hi

hinh-anh-nhung-danh-nhan-van-hoa-trung-quoc-noi-tieng-gioi-7

Nếu như tính đến bậc quân vương giác ngộ của Trung Quốc cổ đại phải xếp Khang Hi ở vị trí đầu bảng. Ông là vị Hoàng đế thứ 4 của nhà Thanh. Mặc dù việc chính sự tiêu hao của Khang Hi phần lớn thời gian và tinh lực nhưng ông vẫn là vị Hoàng đế có trí nhớ “kinh người”. Mỗi khi rảnh rỗi ông vẫn không quên nghiên cứu toán học, thiên văn học và những ngành học đứng đầu thời kỳ ấy. Ông là một trong những

8. Dương Tu

Dương Tu được cho là “Trí thương hữu dư, tình thương bất túc” (chỉ số trí tuệ có thừa, chỉ số tình cảm chưa đủ). Rốt cuộc chỉ số trí tuệ của Dương Tu là bao nhiêu? Chúng ta có thể lấy Tào Tháo làm tham chiếu. Tào Tháo là người kiệt xuất thời ấy, trí nhớ hơn người (không tính về sự nghi ngờ). Vậy, Tào Tháo đánh giá thế nào về Dương Tu? Tào Tháo nói về Dương Tu: “Ngã tài bất kiến khanh (Dương Tu), nãi giác tam thập lý”. Đại ý Tào Tháo muốn nói rằng, chỉ số trí tuệ của Dương Tu vượt xa của ông 30 dặm. Chính trí tuệ của Dương Tu khiến Tào Tháo phải nể phục và nhiều lần phải “ngậm bồ hòn làm ngọt”.

9. Nhạc Phi

hinh-anh-nhung-danh-nhan-van-hoa-trung-quoc-noi-tieng-gioi-9

Nguyên soái Nhạc Phi người có công lớn đánh đuổi quân Kim, bảo vệ nhà Tống. Quân của Nhạc Phi uy dũng vô cùng đánh dâu thắng đấy.

Quân Nhạc Phi chủ trương: “Không được lấy nhà dân ngay cả khi quân sỹ lạnh cóng; không được cướp bóc ngay cả nếu thiếu ăn” nên rất được chúng dân yêu mến và ủng hộ.

Vì thế, Nhạc gia quân đến đâu, dân chúng đều hân hoan chào đón, thậm chí nhiều người xúc động và cảm ân đến phát khóc. Quân sỹ bị bệnh, Nhạc Phi đích thân đi thăm hỏi. Gia đình quân sỹ gặp khó khăn, ông sai các cơ quan hữu trách tặng nhiều lụa là gấm vóc. Tướng sỹ hy sinh, thì ngoài việc an ủi chăm sóc, còn “dĩ tử thê kỳ nữ” (thuộc hạ hy sinh, con gái của người ấy bị mồ côi cha không có ai chăm sóc, Nhạc Phi bảo con trai lấy làm vợ), và thường xuyên an ủi góa phụ của các tướng sỹ đã hy sinh. Một đội quân với tướng sỹ đều đồng tâm nhất trí, có chế độ thưởng phạt công minh nhờ đó mà rất hùng mạnh.

Trong số các tướng quân nhà Nam Tống, chỉ có Nhạc Phi kiên quyết một vợ, hơn nữa không bao giờ đi những chỗ lầu xanh buông thả dục vọng. Ngô Giai từng dùng 2.000 quan tiền để mua một cô gái con nhà danh sỹ tặng cho Nhạc Phi, Nhạc Phi nấp sau tấm bình phong hỏi: “Người nhà tôi đều mặc áo vải, ăn thức ăn thô dở, nếu có thể đồng cam cộng khổ thì xin mời ở lại, còn nếu không tôi không dám giữ”. Người con gái nghe xong trộm cười thầm, tất nhiên là không muốn. Nhạc Phi liền sai người đưa trả về. Thuộc hạ khuyên can nói không nên làm tổn thương giao tình với Ngô Giai, nhưng Nhạc Phi trả lời: “Nay mối nhục của đất nước còn chưa rửa sạch được, phải đâu là lúc đại tướng an nhàn vui chơi?”. Sau này Ngô Giai biết chuyện lại càng thêm kính trọng Nhạc Phi.

Dù lập nhiều chiến công vang dội, nhưng khi báo công về triều đông ông không báo công của mình cũng như con trai là Nhạ Vân.

Tần Cối lấy tội danh “Mạc tu hữu” hãm hại Nhạc Phi. Nghĩ tới Nhạc Vân và thuộc hạ Trương Hiến có oai dũng 1 người chọi vạn người, bèn giả mạo nét chữ của Nhạc Phi viết thư lừa 2 người họ vào ngục. Thuộc hạ của Nhạc Phi là Trương Bảo vào ngục thăm họ, thỉnh cầu rằng: “Chúng ta hãy đánh ra rồi thoát thân”. Nhạc Phi nói: “Từ xưa trung thần không sợ chết, Thiên nhật sáng soi, để xem kẻ gian thần kia có thể hưởng thụ được bao lâu!”. Trương Bảo lại hỏi Nhạc Vân, Trương Hiến, thì cả 2 đều nói: “Là bề tôi thì tận trung, là con thì tận hiếu, cha không ra, 2 người chúng ta làm sao ra ngoài được!”. Vào đêm giao thừa năm 1142, Nhạc Phi, Nhạc Vân, Trương Hiến đồng thời bị Tần Cối giết hại, nhân dân cả nước nghe tin đều khóc thương. Nhân dân tất cả đều căm thù Tần Cối, họ lấy bột mỳ tạo thành hình nhân, bỏ vào vạc dầu, gọi đó là “Rán thịt Cối”. Sau này, mọi người lại dùng sắt thô đúc tượng bọn Tần Cối quỳ gối mãi trước mộ của Nhạc Phi.

Trên đây là 9 danh nhân văn hóa thế giới của Trung Quốc, lỗi lạc nhất mọi thời đại từ trước đến nay. Đây là một tài liệu tham khảo về văn hóa Trung Quốc vô cùng bổ ích cho bạn khi nghiên cứu về Trung Quốc.

Xem thêm:

LỊCH KHAI GIẢNG CHI TIẾT CÁC KHÓA TIẾNG TRUNG TRONG THÁNG 8/2018XEM CHI TIẾT
hotline