26 Th5

Zhuyin là gì? Học bảng chú âm phù hiệu tiếng Trung

Hình ảnh zhuyin là gì?
Rate this post

Zhuyin là gì? Bảng chú âm phù hiệu tiếng Trung. Học tiếng Trung cơ bản cùng Thanhmaihsk.

Học tiếng Trung đang trở thành một xu hướng trong thời buổi công nghệ 4.0 hiện nay. Nhiều bạn băn khoăn không biết zhuyin là gì và nhiều thuật ngữ liên quan. Bài viết hôm nay, Trung tâm tiếng Trung Thanhmaihsk sẽ giúp bạn hiểu rõ nhé!

Học tiếng Trung về zhuyin

Zhuyin là gì?

Zhuyin hay còn gọi là chú âm phù hiệu (phồn thể: 注音符號; Bính âm Quan Thoại: bōpōmōfō; Việt bính: bo1 po1 mo1 fo1.

Chú âm phù hiệu: ㄓㄨˋ ㄧㄣ ㄈㄨˊ ㄏㄠˋ) hay chú âm là một loại chữ viết dùng để ký hiệu cách phát âm các chữ Hán trong tiếng Quan Thoại Trung Quốc.

Bảng chữ cái chú âm gồm có 37 ký tự và 4 dấu thanh và có thể ký hiệu được toàn bộ các âm Quan Thoại của chữ Hán.

Chú âm phù hiệu được phổ biến rộng rãi ở Trung Quốc bởi Chính phủ Bắc Dương vào những năm 1910 và được dùng song song với hệ thống phiên âm chữ Hán Wade-Giles. Rồi hệ thống Wade-Giles được thay thế vào năm 1958 bằng hệ thống Bính âm Hán ngữ bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và tại Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế vào năm 1982.

Mặc dù Đài Loan đã chính thức không sử dụng hệ thống Wade-Giles từ năm 2009, chú âm phù hiệu vẫn được sử dụng chính thức và rộng rãi tại đây trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là giáo dục và đánh máy.

Khi bắt đầu học tiếng Trung cơ bản, thì việc học bảng chú âm tiếng Trung là bài học đầu tiên. Chính vì vậy, b đừng bỏ qua nhé!

Bảng chú âm phù hiệu Trung Quốc

Bảng chú âm tiếng Trung bao gồm các yếu tố sau:

– Phụ âm:

Chú âm phù hiệu
Bính âm b p m f d t n l g k h j q x zh ch sh r z c s
IPA b m f t n l k x tɕʰ ɕ tʂʰ ʂ ʐ ts tsʰ s

– Nguyên âm

Chú âm phù hiệu
Bính âm i u ü a o e ê ai ei ao ou an en n ang eng ng er r
IPA i u y a o ɤ ɛ ai ɛi ɑu ou an ɛn ən n ɑŋ əŋ ŋ ɚ r

– Thanh điệu

Thanh Âm bình Dương bình Thượng thanh Khứ thanh Khinh thanh
Chú âm ˊ ˇ ˋ ˙
phù hiệu

– Ngoại lệ

Chú âm ㄩㄥ ㄨㄥ ㄧㄥ ㄧㄣ ㄧㄝ ㄩㄝ
phù hiệu
Bính âm iong ong ing in ie üe

Chúc bạn học tiếng Trung thật tốt với bảng chú âm phù hiệu nhé!

Xem thêm:

20 Th3

Bảng đối chiếu chữ giản thể và phồn thể trong tiếng Trung

Bảng đối chiếu chữ giản thể và phồn thể trong tiếng Trung
5 (100%) 1 vote

THANHMAIHSK xin gửi bạn bảng đối chiếu chữ giản thể và phồn thể trong tiếng Trung để bạn tiện theo dõi và nhận biết được mặt chữ nhé!

Chữ Hán có hai cách viết đó là chữ giản thể và chữ phồn thể. Về cách đọc thì hai kiểu chữ này không khác nhưng cách viết thì khác nhau. Điều này bạn sẽ biết rõ khi được học viết của khóa cơ bản tiếng Trung cho người mới học. Vậy chữ giản thể và phồn thể là gì, sự khác nhau ở cách viết ra sao, bạn cùng tham khảo bài viết này nhé!

Chữ Hán giản thể: là một trong hai cách viết tiêu chuẩn của chữ Hán hiện nay. Cách viết này được chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giản hóa từ chữ Hán phồn thể nhằm tăng tỷ lệ biết chữ và đơn giản hóa cách viết chữ Hán. Trung văn giản thể được sử dụng ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Singapore và Malaysia. Tuy nhiên, đây là một trong nhiều cách đơn giản hóa chữ Hán đã được thực hiện trong nhiều thế kỷ qua.

Loại chữ Hán giản thể này được tạo ra bằng cách giảm số nét viết của nhiều chữ Hán truyền thống. Nhiều chữ

được đơn giản hóa bằng cách áp dụng các quy luật thông thường, ví dụ như bằng cách thay thế một số bộ bằng bộ khác gần (theo cách mà chữ Hán đã được sáng tạo ra, đặc biệt là chữ biểu thị âm và ý nghĩa). Nhiều chữ được đơn giản hóa không theo quy tắc và nhiều chữ được đơn giản hóa thì không đồng dạng với chữ truyền thống.

Chữ Hán phồn thể, trong khi đó, được sử dụng ở Hồng Kông, Macau, Đài Loan và bởi nhiều cộng đồng Hoa kiều. Gần đây chữ Hán giản thể dần dần giành được sử phổ biến trong cộng đồng Hoa kiều do ngày càng có nhiều người Trung Quốc di cư ra nước ngoài.

Dưới đây là bảng so sánh khoảng 250 chữ Hán giữa phồn thể và giản thể để các bạn khi học tiếng Trung có thể nhận biết và đừng nghĩ là người khác viết sai nhé!

hinh-anh-bang-doi-chieu-chu-gian-va-phon-trong-tieng-trung-1

bang-doi-chieu-chu-gian-va-phon-trong-tieng-trung-2

bang-doi-chieu-chu-gian-va-phon-trong-tieng-trung-3

bang-doi-chieu-chu-gian-va-phon-trong-tieng-trung-4

Xem thêm:

TRUNG TÂM TIẾNG TRUNG THANHMAIHSK
Cơ sở 1: Số 15 ngách 26 ngõ 18 Nguyên Hồng – Đống Đa – HN
Điện thoại: 04 38359969. Hotline: 0931715889

Cơ sở 2: 18 BIS/3A Nguyễn Thị Minh Khai – Phường Đakao – Quận 1 – TP.HCM
Điện thoại: 08 66819261. Hotline: 0914506828

Cơ sở 3: Số BT11 Lô 16A1 Làng Việt Kiều Châu Âu Mộ Lao Hà Đông Hà Nội
Điện thoại: 0985.887.935

Cơ sở 4: Giảng đường D2 Đại học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
Hotline: 04 38359969

13 Th3

Bảng phiên âm tiếng Trung cho người mới học

Bảng phiên âm tiếng Trung cho người mới học
4.6 (92%) 5 votes

Bảng phiên âm tiếng Trung với đầy đủ các thanh mẫu, phụ âm, nguyên âm, cho người mới học. Học phát âm tiếng Trung chuẩn tại THANHMAIHSK.

Học tiếng Trung cơ bản cho người mới bắt đầu là lộ trình đầu tiên cho ai muốn chinh phục tiếng Trung. Hãy cùng bắt đầu hành trình đó cùng Trung tâm tiếng Trung THANHMAIHSK với bài học về bảng phiên âm tiếng Trung nhé!

hinh-anh-bang-phien-am-tieng-trung-1

hinh-anh-bang-phien-am-tieng-trung-2

Bảng chữ cái tiếng Trung cho người mới học

hinh-anh-bang-phien-am-tieng-trung-3

hinh-anh-bang-phien-am-tieng-trung-4

hinh-anh-bang-phien-am-tieng-trung-5

Với bảng phiên âm tiếng Hoa này, các bạn có thể đọc thành thạo chữ Pinyin khi kết hợp với việc phát âm các dấu trong tiếng Trung!

Đây là bài học không thể bỏ qua, hãy cố gắng học nhé các bạn!

Trung tâm dạy học tiếng Trung Quốc THANHMAIHSK đồng hành cùng bạn trên con đường chinh phục tiếng Trung!

06 Th3

Chữ an trong tiếng Hán-Học tiếng Trung với THANHMAIHSK

hình ảnh Chữ an trong tiếng Hán-Học tiếng Trung với THANHMAIHSK 1
Rate this post

Ý nghĩa chữ an trong tiếng Hán, bàn về các tầng lớp nghĩa của chữ an trong tiếng Trung. Học tiếng Hoa với THANHMAHSK để yêu và hiểu tiếng Trung.

Tục xin chữ đầu năm của người Việt với mong muốn cầu cho một năm bình an và vui vẻ, trong đó, xin chữ an đầu năm luôn là nguyện ước của nhiều người. Chữ an trong tiếng Hán có tầng lớp ý nghĩa như thế nào mà mọi người lại đều muốn có, cùng Trung tâm tiếng Trung tại Hà Nội THANHMAHSK tìm hiểu nhé!

hinh-anh-chu-trong-tieng-han-hoc-tieng-trung-voi-thanhmaihsk-1

1. Ý nghĩa chữ an trong tiếng Trung

Chữ “安” / ān/ gồm 6 nét, có kết cấu trên dưới, bộ Miên 宀 ( mái nhà) ở bên trên và bộ Nữ 女 ( đàn bà, con gái, phụ nữ ) ở bên dưới. Đây là chữ hội ý, người Trung Quốc quan niệm, người phụ nữ ở trong nhà là an toàn nhất.

Chữ 安 trong ngũ hành là Thổ, nghĩa gốc là an toàn, yên bình, yên ổn. Nếu ở trong tên người thì sẽ mang ý nghĩa an lạc, an nhàn, bình an, hạnh phúc. Theo thống kê có 52% lấy chữ 安 làm chữ đầu tiên trong tên của mình, 48% lấy chữ 安 làm chữ thứ hai trong tên của mình, ví dụ 张宏安 /Zhāng hóng ān/: Trương Hồng An, 王安琪 / wáng ān qí/: Vương An Kì,… 安 trong văn thơ cổ còn có nghĩa tương đương với 怎么.

Những từ đi với chữ an trong tiếng Trung đều mang nghĩa mong muốn sự bình yên cả về thể chất lẫn tinh thần.

hình ảnh Chữ an trong tiếng Hán-Học tiếng Trung với THANHMAIHSK 2

2. Cách chữ ghép tiếng Trung có chữ an

– 请安 /qǐng ān/: thỉnh an, vấn an, thăm hỏi.

VD: 我们给奶奶请安,祝奶奶福寿绵长 /wǒmen gěi nǎinai qǐng ān , zhù nǎinai fú shòu mián cháng/: chúng tôi thỉnh an bà nội, chúc bà nội sống lâu sống thọ.

– 早安 /zǎo ān /: chào buổi sáng

– 午安 /wǔ ān/ : chào buổi trưa

– 晚安 /wǎn ān/: chúc ngủ ngon

– 平安 /píng ān/: bình an.

VD: 祝你一路平安/zhù nǐ yí lù píng ān/: chúc bạn lên đường bình an

– 安定 /ān dìng/: yên ổn, ổn định; yên bình, làm yên; bình định; dẹp yên

– 安稳 /ān wěn/: an ổn, bình thản, tĩnh mịch; yên tĩnh, chắc chắn

– 安乐 /ān lè/ : an lạc, an vui, yên vui, thanh thản, thoải mái

– 安心 /ān xīn/ : an tâm.

VD: 让你一个人去我不安心/ràng nǐ yí gè rén qù wǒ bù ān xīn/ : để cậu đi một mình tôi không an tâm.

– 安宁 /ān níng/ : an bình, an ninh, trật tự trị an

– 安闲 /ān xián/ : an nhàn, thanh thản

– 安慰 /ān wèi/: an ủi, xoa dịu, dỗ dành.

VD: 不用安慰我,我没事 /bú yòng ān wèi wǒ , wǒ méi shì/: không cần phải an ủi tôi đâu, tôi không sao cả.

– 安然 /ān rán/: an nhiên, yên tâm; yên lòng; an tâm

– 安抚 /ān fǔ/ : trấn an; làm yên lòng; vỗ về; động viên; bình định; dẹp yên

– 安全 /ān quán/ : an toàn.

VD: 路上小心,注意安全 /lù shàng xiǎo xīn , zhù yì ān quán/ : đi đường cẩn thận, chú ý an toàn.

– 安危 /ān wēi/ : an nguy

– 安妥 /ān tuǒ /: thanh thản; bớt căng thẳng

– 安置 /ān zhì/: ổn định; xếp gọn; thu xếp; bố trí ổn thoả

– 安放 /ān fàng/ : sắp đặt; xếp gọn; để; đặt

– 安装 /ān zhuāng/ : cài đặt; lắp đặt; lắp; lắp ráp

– 安静 /ān jìng/ : yên tĩnh .

VD: 我喜欢在一些安静的地方呆着/wǒ xǐ huān zài yī xiē ān jìng de dìfang dāi zhe/: tôi thích ở những nơi yên tĩnh

– 安排 /ān pái/ : an bài, sắp xếp .

VD: 一切我们都安排好了/yí qiē wǒmen dōu ān pái hǎo le/: tất cả chúng tôi đã đều sắp xếp xong xuôi ổn thỏa hết rồi.

– 安眠 /ān mián / : ngủ yên, an giấc

– 公安 /gōng ān /: công an

– 治安 /zhì ān/: trị an, an ninh trật tự

– 不安 /bù ān/: bất an.

VD: 如果没有见到他平安回来我心里就会觉得不安/rú guǒ méi yǒu jiàn dào tā píng ān huí lái wǒ xīn lǐ jiù huì jué dé bù ān/: nếu như không nhìn thấy anh ấy bình an trở về, trong lòng tôi sẽ cảm thấy bất an.

– 安神 /ān shén/: an thần

– 安康 /ān kāng/: an khang.

VD: 祝你全家狗年幸福安康! /zhù nǐ quán jiā gǒu nián xìng fú ān kāng/: chúc cả gia đình bạn năm Tuất hạnh phúc an khang.

– 安处 /ān chù/: yên ổn nơi ăn chốn ở

– 安身立命 /ān shēn lì mìng /: sống yên phận; yên thân gởi phận, tìm nơi ổn định cuộc sống

– 安邦定国 /ān bāng dìng guó/ : an bang định quốc

– 安居乐业 /ān jū lè yè/ : an cư lạc nghiệp

– 安份守己 /ān fèn shǒu jǐ/ : an phận thủ thường

– 安分知足 /ānfèn zhīzú/: an phận, biết thế nào là đủ, biết thỏa mãn, thấy đủ

– 平安无事 /Píng ān wú shì/: bình an vô sự

– 变危为安 /biànwēiwéi’ān/: biến nguy thành an

– 安老怀少 /Ān lǎo huái shào/: kính già yêu trẻ

– 忐忑不安 /tǎntè bù’ān/: thấp thỏm không yên

– 不探虎穴,安得虎子/ bù tàn hǔ xué,ān dé hǔ zǐ/: không vào hang cọp sao bắt được cọp con

– 安危相易,祸福相生/ ān wēi xiāng yì,huò fú xiāng shēng/: bình an và nguy nan đều có thể chuyển hóa lẫn nhau, họa và phúc là do nhân quả.

– 碎碎平安/ Suì suì píng ān/: đây là câu người Trung Quốc thường nói khi chẳng may làm rơi vỡ đồ, có âm đọc giống với 岁岁平安/ Suì suì píng ān/: tuổi mới bình an.

3. Sự phổ biến của chữ an trong cuộc sống

Với tầng lớp ý nghĩa của chữ an tiếng Trung, chúng ta có thể bắt gặp ở rất nhiều nơi hình ảnh chữ an ở trên nhiều chất liệu khác nhau:

– Chữ an trong viết thư pháp: thông thường đầu năm, người Việt xin chữ an tại các chùa, đền để treo trong nhà cầu bình an.

hinh-anh-chu-trong-tieng-han-hoc-tieng-trung-voi-thanhmaihsk-3

– Chữ an trong trang trí nội thất

– Chữ an trong trang phục

Trên đây chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu chữ an tiếng Hán 安 kết cấu cũng như một số ý nghĩa phổ biến của nó. Tìm hiểu về chữ Hán là một trong những cách lấy động lực giúp bạn học tiếng Trung tốt hơn. Càng khám phá ta càng thấy thú vị biết bao và luôn tự nhủ phải học thật chăm chỉ.

Trung tâm tiếng Trung tại Hà Nội THANHMAHSK hi vọng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn trong quá trình học tiếng Trung. Chúc các bạn học tốt !

Xem thêm:

03 Th3

Chữ lộc trong tiếng Hán-Học tiếng Hán với THANHMAIHSK

Hình ảnh Hình ảnh Chữ lộc trong tiếng Hán-Học tiếng Hán với THANHMAIHSK 1
Chữ lộc trong tiếng Hán-Học tiếng Hán với THANHMAIHSK
5 (100%) 1 vote

Tìm hiểu về ý nghĩa chữ lộc trong tiếng Hán, học chữ lộc tiếng Hán như thế nào. Cách viết chữ lộc trong tiếng Trung đẹp.

“Lộc” là một trong ba chữ trong câu chúc tết của người Việt đó là “Phúc-Lộc-Thọ”. Vậy chữ lộc trong tiếng Hán có ý nghĩa như thế nào mà ai cũng mong muốn thật nhiều. Cùng Trung tâm tiếng Trung THANHMAIHSK tìm hiểu về chữ lộc để mọi người cùng sáng tỏ.

1. Ý nghĩa chữ Lộc trong quan điểm người Trung Hoa

Chữ LỘC trong văn hóa xưa thường nhắc người ta nhớ tới cảnh vinh quy bái tổ. Tôi nhớ ai đó ở Bến Tre kể về vị tiến sỹ đầu tiên ở đất Nam Kỳ về Ba Tri… Ngài đã đi bộ từ ngoài lộ qua bưng, qua vườn đến nhà tranh trong vườn để lạy thầy giáo của mình rồi sau đó mới về lạy cha, lạy mẹ… Sắp có bổng lộc triều đình, Phan Thanh Giản đã làm ta phải nể kính một nhân cách lồng lộng…

Hình ảnh Hình ảnh Chữ lộc trong tiếng Hán-Học tiếng Hán với THANHMAIHSK 1

Thời xưa, Lộc tức là bổng lộc mà các Quan được nhận. Có thứ Lộc của Vua ban, có thứ Lộc của dân biếu. Vua ban để ghi nhận công lao của các Quan đã chí công vô tư, thay Vua cai quản, chăn dắt đám dân chúng dưới quyền! Còn dân kính biếu Quan, để bày tỏ lòng biết ơn về một công việc gì đó, quan đã vì quyền lợi chính đáng của dân, mà làm. Như vậy hoàn toàn có thể nói Lộc chính là sự ghi nhận công lao các Quan: công lao với dân và công lao với Vua, với nước. Lộc là thành quả, sự đền đáp xứng đáng của công lao.

Lộc biểu tượng cho một trong những hạnh phúc lớn nhất của đời người đó là tài tộc dồi dào. Lộc còn bao hàm ý nghĩa may mắn, phúc tốt lành. Mỗi độ Tết đến, cùng với chữ Phúc, Thọ, người Việt Nam thường treo bộ tranh ba chữ Phúc – Lộc – Thọ để cầu mong tài lộc đến với mỗi người. Người dân còn có tục lệ đi hái lộc vào những ngày đầu năm mới. Người ta hái những lộc non về như đem tài lộc, may mắn về với gia đình trong suốt năm.

Tài Lộc cũng như chồi lộc non mùa xuân. Mùa xuân chồi lộc đua nhau xanh mơn mởn. Lộc non là thành quả của những ngày đông rét mướt trong kén lá. Lộc non tô điểm cành đào ngày Tết. Người Việt Nam chuộng những cành đào có cả lộc non xanh mơn mởn và hoa đào tươi hồng. Giống như, bên cạnh sức khỏe và hạnh phúc, người người đều mong muốn tài lộc để đủ đầy thêm hạnh phúc của mình. Lộc như chồi non, làm mơn mởn cuộc sống sung túc của mỗi người.

2. Tại sao các thánh hiền lại không coi trọng chữ lộc

Những vở tuồng cổ kể về những câu chuyện đậu đạt, có quan Lộc thường theo một motip 3 chặng:

Nhân vật mang mặt nạ trắng, mặc áo đỏ, đi 3 vòng quanh sân khấu. Anh ta chỉ cười mà không nói.

Anh ta bồng một đứa bé rất kháu khỉnh, rồi lại lượn 3 vòng trên sân khấu.

Anh ta ra sân khấu với tiền hô hậu ủng, mang theo 4 chữ GIA QUAN TIẾN LỘC nghĩa là “Thăng quan tiến Lộc”…

Bây giờ nói về cá Chép. Truyền thuyết kể rằng: Ngày xưa ở sông Hoàng Hà, con sông nuớc chảy rất dữ dội có đàn cá Chép bơi ngược dòng đến để nhảy qua Vũ Môn. Con nào vượt được dù lành lặn hay “trầy vi tróc vảy”, mang miệng dù bị chảy máu vẫn được hóa Rồng.

hinh-anh-chu-loc-trong-tieng-han-hoc-tieng-han-voi-thanhmaihsk-2

Đời Tống khi nói LÝ NGƯ KHIÊU LONG MÔN là chỉ những người đã trót lọt những khoa thi Hương, thi Hội, thi Đình như cụ Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến sau này. Họ sẽ ra làm quan. Mà “một người làm quan cả họ được nhờ”.

Có một chữ LỘC tiếng Hán đồng âm với “Lộc” mà chúng ta đang bàn này có nghĩa là con cá Chép (người Việt đọc là Lý chứ không đọc Lộc). Đây là lý do tranh Tết treo cá Chép nuốt Trăng. Tại sao đêm trăng trung thu lại rước đèn Cá Chép… Đó là ước mơ vượt Vũ Môn, hóa Rồng, có quyền lực. Quả thật muốn làm quan to, quyền cao chức trọng thì phải đoạt Giải Nguyên. Chữ GIẢI lại là con cua. Mua Cua cho nó cắn mấy trò lười học nhất định có ngày giải nguyên.

Chữ LỘC là danh lợi cho nên bàn về nó thật rắc rối “Quyền LỘC cũng lắm công phu”. Từ con Hươu tìm linh chi đang mọc sừng, mọc lộc, đang chạy nặng nề với cùng ông Phán Mọc Sừng bỗng dưng nhảy ùm xuống sông Hoàng Hà làm trọng tài ném những con Chép vượt Vũ Môn.

Muốn được LỘC nhiều thì làm quan to. Công, Hầu, Bá, Tư, Nam… Làm Công như Trần Hưng Đạo Quốc Công tiết chế thì có mà mơ. Làm Nam tước, Tử tước thì đi đâu cũng đã có “tiền hô hậu ủng” rồi. Cũng không hiểu sao, nhân vật Từ Hải ở truyện Kiều trong con mắt triều đình là giặc cỏ nhưng khi lập ra một bờ cõi “rạch đôi sơn hà” thì cụ Nguyễn lại gọi là TỪ CÔNG:

“Từ Công nghe nói thủy chung”

Hoặc :

“Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi”.

Cho hay, cái nhìn của Nguyễn Du, cách dùng từ của cụ quả là động chạm tới nhãn quan của vua chúa. Chẳng trách mà Tự Đức muốn đánh Cụ 300 roi! Chỉ cần được ban cho Hầu Tước là vị quan ấy đã được Phong cho hàng ngàn mẫu đất để Kiến tạo cơ đồ. Hóa ra PHONG KIẾN chính là chế độ cho chữ Lộc được nói tới nhiều nhất.

Có một chư “̃Hầu” đồng âm là “con Khỉ”. Vì thế ẤN PHONG HẦU là ấn phong cho con khỉ. Các bạn chú ý bức tranh con khỉ đang bất chấp ngã dập mặt đưa tay giành ấn. Chữ LỘC có biểu tượng là con Khỉ. Ai nói giành Lộc với thiên hạ lại không nguy hiểm? Khi vào triều thì phải HANH THÔNG QUAN LỘ. Vì thế mà ta gặp nghịch cảnh làm trò thật hài hước: con Khỉ ngồi trên lưng ngựa như chiến tướng xưa định uống rượu ngon nhưng nghe tiếng đàn tỳ bà giục lên yên cương sống mái chốn sa trường, vi vu ra chiến địa.

Ta gọi câu chuyện kiếm công danh, kiếm LỘC bằng mọi giá này là: MÃ THƯỢNG ĐÁO HẦU. Mọi người hãy tìm bức tranh hài này mà nhìn trước lúc mơ về Lộc nhé! Hình như bức tranh lem nhem quá. Vì LỘC mà lem nhem có ai chịu không? Bức tranh thể hiện khát vọng thăng quan tiến chức thật nhanh. Phải Nhất phẩm triều đình mới là bước thứ nhất…

Chữ LỘC còn dính tới cụm từ: “Quan thượng gia quan”. Mào gà trống trong tiếng Tàu là “Quan”. Do đó, khi vẽ con gà trống đứng oai vệ bên những bông Mồng Gà thì ta biết đó là lời chúc thăng quan tiến chức thật nhanh. Chữ “Quan” ở sau là “mũ nón”. Thay kiểu mũ tức là thay chức tước nên cụm từ trên được dịch là: “Lên quan, gia tăng chức tước”. Cũng nói thêm, con gà là linh vật đuổi tà. Đấy, để lấy bổng LỘC quyền lực phải đấu với người, đấu với ma quỷ, phải mang tội sát sinh không biết bao nhiêu gà qué tiêu đời, không biết làm lợi cho bao nhiêu lão thầy bói đưa chân gà về treo giàn bếp hong khói để “quét nhà ra rác”.

Hình ảnh Chữ lộc trong tiếng Hán-Học tiếng Hán với THANHMAIHSK 1

Hết động vật, người ta tìm Lộc trong hoa lá. Hoa Mẫu Đơn gọi là hoa phú quý. Cho nên người cầu lộc không thể thiếu hoa này. Nghe nói đây là loài hoa làm cho Từ Hy Thái hậu mê tới phát cuồng… Bộ 3 Mẫu Đơn, Ngọc Lan, Hải Đường gọi là: NGỌC ĐƯỜNG PHÚ QUÝ. Nghĩa là: “giàu sang điện ngọc”. Khi kết hợp bộ tứ: Sen, Cúc, Mận, Mẫu Đơn thì gọi là: TỨ QUÝ BÌNH AN. Nghĩa là “bình an bốn mùa”.

Vật lộn với chữ Lộc là đặt mình trong tình thế mong manh giữa chính và tà, giữa tốt và xấu. Quyền lực càng tuyệt đối, tha hóa càng tuyệt đối. Lòng tham con người là vô đáy… Cái Lợi cái LỘC cho người ta tăng trưởng cái phần “con” của con người tha hóa. Đặc biệt là con người hôm nay không kính Trời, kính Phật, chỉ biết lợi. Họ dùng tiền bạc để có “chức vị”. Sau đó dùng chức vị để có tiền bạc, hưởng thụ…

Người xưa có 2 chữ “Lộc Đố” nghĩa là làm sâu làm mọt, đục khoét dân mà có Lộc (Đố là con mọt gỗ). Chắc gương Hòa Thân giàu có hơn cả triều đình nhà Thanh bị tử hình là một bằng chứng. Đổng Trác bị treo thây ngoài chợ, Chu Vĩnh Khang, Bạc Hy Lai mổ sống người để bán nội tạng làm giàu đang chờ “Hiện thế hiện báo”…

Cần nhắc lại nàng Kiều khi làm phu nhân, làm vợ Từ Hải đã bị cái bả quyền lực này làm tha hóa nhân cách. Chữ LỘC biến người ta theo chủ nghĩa cơ hội, thành hợm hĩnh, thành người tự dối chính mình. Đây là tính toán của một người cơ hội:

Sao bằng LỘC trọng QUYỀN cao,
CÔNG DANH ai dứt lối nào cho qua…

Với chừng ấy câu chữ nhàn đàm về chữ Lộc, chúng ta đã có thể phát hiện ra ý nghĩa ẩn dụ thú vị ở những hình ảnh, những hình tượng trong hội họa, trong kiến trúc xưa. Hình ảnh quen thuộc là chú Hươu, con Cá Chép. Nhưng chữ Lộc không đơn giản là như vậy. Danh, Lợi, Tình vốn gắn với thế giới Mê của con người, là đặc sản của nhân loại. Con người vì ba chữ này mà sống. Do đó chữ Lộc cũng thật nhiêu khê, rắc rối…

Nhưng đó là những người có sự am hiểu sâu rộng về sách Thánh Hiền còn chúng ta ai cũng mong muốn rằng trong năm mới, gia đình sẽ có thật nhiều tài lộc, phát tài, gia đình thịnh vượng. Và đó cũng là lời chúc chúng ta thường dành cho nhau mỗi dịp năm mới.

Ngôn ngữ chính là một trong những cây cầu giúp chúng ta tìm hiểu lịch sử và văn hóa Trung Quốc, còn rất nhiều điều thú vị về nơi đây để chúng ta khám phá và cũng là động lực để chúng ta thêm hứng thú với mỗi bài học tiếng Trung được giảng dạy tại trung tâm tiếng Trung THANHMAIHSK.

Xem thêm:

Chữ thọ trong tiếng Hán

Chữ phúc trong tiếng Trung

Thú với với Hán tự tiếng Trung

Lão tử và tư tưởng Đạo gia trong Trung Quốc

3 lời răn trân quý của Không Tử

Chữ lộc trong tiếng Trung

02 Th3

Chữ phúc trong tiếng Hán

Hình ảnh Chữ phúc trong tiếng Hán -Học tiếng Trung với THANHMAIHSK 3
Chữ phúc trong tiếng Hán
5 (100%) 1 vote

Tìm hiểu về ý nghĩa chữ phúc trong tiếng Hán. Học cách viết chữ phúc tiếng Hán đẹp nhất. Trả lời câu hỏi tại sao người ta treo chữ phúc ngược trong nhà.

Chữ phúc là một trong những chữ được treo nhiều nhất trong các gia đình nhân dịp năm mới. Tuy nhiên có nhiều người chưa hiểu được ý nghĩa của chữ phúc và câu chuyện xung quanh nó. Hôm nay, hãy cùng học tiếng Trung Quốc tìm hiểu về chữ phúc trong tiếng Hán nhaaa!!!

1. Các ý nghĩa của chữ phúc trong tiếng Trung

Chữ Phúc tiêu biểu cho may mắn sung sướng, thường dùng trong từ ngữ hạnh phúc. Người Á Đông, từ lâu đã có nhiều hình tượng biểu thị chữ phúc, mà ngày nay người ta còn thấy trong nhiều vật trang trí, trong kiến trúc, và cả trên y phục.

hinh-anh-chu-phuc-trong-tieng-han-1

Chữ Phúc trong viết thư pháp

hinh-anh-chu-phuc-trong-tieng-han-2

Chữ phúc trong nội thất nhà ở

Chữ phúc gồm bộ thị đi liền ký tự phúc. Bộ thị vốn là hình vẽ cái bàn thờ. Ký tự phúc – mà người đời sau chiết thành nhất khẩu điền – vốn là hình vẽ một vò rượu. Nghĩa là sao? Cầu cho trong nhà được bình rượu luôn đầy. Thế là đầy đủ, dồi dào và hoàn bị. Ý nghĩa của chữ phúc thoạt kỳ thủy tương tự chữ phú 富, ngày nay được hiểu là giàu.

Chữ phúc lần hồi được hiểu là “điều tốt lành” hoặc “việc may mắn” . Do đó, nhiều kết hợp từ có yếu tố phúc nhằm chỉ sự vui vẻ, no ấm, an lành: phúc đức, phúc ấm, phúc tinh, phúc hạnh, hạnh phúc, hồng phúc, diễm phúc, v.v.

Lưu ý rằng trong từ Hán – Việt còn mấy chữ phúc đồng âm dị nghĩa:

– Phúc 輹 có nghĩa thanh gỗ ngang dưới xe dùng nắt liền trục xe với thân bánh xe;

– Phúc 輻 / 辐 có nghĩa nan hoa bánh xe;

– Phúc 蝮 có nghĩa rắn độc (như phúc xà là rắn hổ mang);

– Phúc 腹 có nghĩa là bụng (như tâm phúc, phúc mạc, v.v.);

– Phúc 覆 /复 có nghĩa lật lại, xem xét lại kỹ càng (như phúc khảo, phúc hạch, v.v..);

– Phúc 蝮 có nghĩa là chiều ngang, khổ, viền mép vải, bức (như nhất phúc hoạ là một bức tranh); phúc có nghĩa là con dơi.

Chữ phúc chỉ con dơi được viết khác: không phải bộ thị mà là bộ trùng (tức côn trùng, rắn rết, v.v.) đi kèm. Gọi cho đầy đủ theo tiếng Hán, con dơi là biên phúc 蝙蝠.

Tuy nhiên : cả hai chữ phúc đều được phát âm là phú. Do đó, họ lấy hình ảnh con dơi tượng trưng cho điều tốt lành, may mắn.

2. Tại sao ngày Tết người ta treo chữ phúc lộn ngược

hinh-anh-chu-phuc-trong-tieng-han-3

Chữ phúc treo ngược

Nhiều người khi đến nhà ai đó chơi nhìn thấy chữ phúc treo lộn người thì chê gia chủ không biết tiếng mà còn đòi chơi chữ. Nhưng thực chất đó mới là người chưa hiểu được ý nghĩa sâu xa của việc treo đó.

Thực chất, đây là một phong tục độc đáo và có nhiều cách giải thích khác nhau, ví như điển tích “thợ mộc Thái Sơn” chẳng hạn. Trên phương diện ngôn ngữ, đây lại là lối “chơi chữ” đặc sắc dựa theo tính chất đồng âm.

Chữ phúc tiếng Hán lộn ngược gọi là gì ? Phúc đảo. Tiếng Bắc Kinh đọc là phú dào, y hệt như… phúc đáo, nghĩa là “điều tốt, vận may đến”. Đầu năm đầu tháng (hoặc làm lễ khai trương cửa hiệu, ăn mừng tân gia, v.v.), hỏi ai chẳng mong “bồng ông Phúc vào nhà” như vế đối Nguyễn Công Trứ từng nêu ?

Mà có mấy ông Phúc tất cả ? Ai đấy bảo rằng có 3 ông tạo thành “bộ tam” Phúc – Lộc – Thọ. Song, dịp Tết, sao lại thấy nhiều nhà dán “xuân liên” trước cửa đề Ngũ Phúc lâm môn – tức năm ông Phúc ghé thăm?

3. Chữ phúc biến hoá thành phước

Phúc và phước là từ đồng nghĩa dị âm. Chính âm là phúc. Biến âm thành phước. Vấn đề đặt ra: sự biến âm ấy diễn ra từ bao giờ? Vì sao? Đâu là giới hạn?

Mọi người đều biết rằng hiện tượng “viết chệch, đọc lệch” từng xuất hiện trong lịch sử do kiêng húy. Chữ phúc bị kiêng, thoạt tiên từ thời Tây Sơn. Thoái thực ký văn của Trương Quốc Dụng (1797 – 1864) có đoạn: “Xã tôi xưa gọi là Long Phúc, vì Nguyễn Huệ có tên giả là Phúc, nên đổi gọi là Long Phú”.

Vậy là Phúc biến thành Phú, tức thay hẳn cả chữ lẫn nghĩa. Còn Phúc biến thành Phước thì giữ nguyên chữ nghĩa, chỉ đổi âm, thực sự phổ biến kể từ năm Quý Mùi 1883 – thời điểm công tử Ưng Đăng lên ngôi vua, chọn niên hiệu Kiến Phúc.

Dù đây không phải là trọng húy được triều đình chuẩn định ban bố, song từ hoàng thân quốc thích đến quan quân lẫn thứ dân thảy đều gọi kiêng. Dòng họ Nguyễn Phúc được đọc trại ra Nguyễn Phước. Theo đó, Phúc – Lộc – Thọ biến thành Phước – Lộc – Thọ; may phúc thành may phước; phúc đức thành phước đức; diễm phúc thành diễm phước, v.v.

Tuy nhiên, do không phải trọng húy mà chỉ là khinh huý, nên sự biến âm đã diễn ra chẳng triệt để. Vì thế cần lưu ý rằng trong Việt ngữ, chẳng phải bất kỳ trường hợp nào phước đều có thể thay thế hoàn toàn cho phúc. Ví dụ: hạnh phúc, phúc đáp, phúc âm, v.v.

Tương tự trường hợp hoa đổi thành bông (do kiêng húy danh Tá Thiên Nhơn hoàng hậu Hồ Thị Hoa), nhiều khi phúc biến ra phước lại mang màu sắc có vẻ “thuần Việt” hơn. So sánh ân phúc với ơn phước ắt rõ điều này.

Trên đây là những giải đáp cho thắc mắc chữ phúc trong tiếng Trung. Chữ tiếng Hán vô cùng thú vị đúng không nào và bạn sẽ còn bất ngờ hơn về chữ Hán trong các buổi học tiếng Trung tại Trung tâm dạy học tiếng Trung THANHMAIHSK. Các từ được giải đáp với tầng ý nghĩa sâu nhất, cặn kẽ nhất giúp bạn nhớ từ lâu hơn, nhanh hơn.

Xem thêm:

04 Th1

Học tiếng Trung cơ bản – 5 chủ điểm ngữ pháp quan trọng

Học tiếng Trung cơ bản – 5 chủ điểm ngữ pháp quan trọng
5 (100%) 1 vote

Học tiếng trung cơ bản, bắt đầu từ những kiến thức đơn giản và thiết thực nhất. Nắm được cái nền tảng, sẽ làm tiền đề cho những chuỗi kiến thức cao hơn.

Dưới đây là 5 chủ điểm ngữ pháp quan trọng giúp bạn khởi đầu cho học tiếng Trung cơ bản.

  1. Định ngữ

Định ngữ (定语) được đặt trước danh từ(用在名词前)

– Làm rõ quan hệ sở hữu, nên dùng “的”:

这是我的书。(Zhè shì wǒ de shū – Đây là sách của tôi.)

那是他的笔。(Nà shì tā de bǐ – Kia là bút của anh ta.)

– Làm rõ tính chất của người hoặc sự việc, không dùng “的”:

他是汉语老师。(Tā shì hànyǔ lǎoshī –  Anh ta là thầy giáo tiếng Trung.)

这是中文书 (Zhè shì zhōngwén shū –  Đây là sách tiếng Trung.)

– Làm rõ quan hệ thân thuộc hoặc địa điểm thân thuộc, có thể dung “的” hoặc không,nhưng thường không dùng “的” hơn.

他是我爸爸。(Tā shì wǒ bàba – Ông ấy là ba của tôi.)

那是我们学校。(Nà shì wǒmen xuéxiào – Kia là trường của chúng tôi.)

2. Trạng ngữ

Trạng ngữ 状语 dùng trước động từ hoặc hình dung từ(用在动词 / 形容词前)

– Phó từ làm trạng ngữ :

她很漂亮。(Tā hěn piàoliang – Cô ấy rất xinh đẹp.)

我常常去商店 (Wǒ chángcháng qù shāngdiàn – Tôi thường đi tới cửa hàng.)

– Cụm giới tân làm trạng ngữ

我从美国来 。(Wǒ cóng měiguó lái – Tôi đến từ Mỹ.)

我跟中国老师学汉语。(Wǒ gēn zhōngguó lǎoshī xué hànyǔ.)

Tôi học tiếng Trung cùng thầy giáo Trung Quốc.

– Hình dung từ hai âm tiết thường dùng “地”:

他高兴地说:“今天是我的生日”

Tā gāoxìng de shuō: “jīntiān shì wǒ de shēngrì”

Anh ta vui vẻ nói: “Hôm nay là sinh nhật của tôi”

– Hình dung từ đơn âm tiết thường không dùng “地”:

你快走!(Nǐ kuàizǒu! – Bạn đi nhanh lên!)

– Trước hình dung từ có phó từ trình độ, thường phải dùng “地”:

他很认真地学习 (Tā hěn rènzhēn dì xuéxí. – Anh ấy học hành rất nghiêm túc.)

3. Bổ ngữ kết quả

Bổ ngữ kết quả (结果补语) dùng sau động từ, biểu thị kết quả động tác(用在动词后,表示动作的结果)

Hình thức : Động từ + động từ/ hình dung từ

动词 + 动词/形容词

– Động từ + động từ (动词 + 动词)

Các động từ làm bổ ngữ kết quả gồm có 懂, 见, 完,  在, 到, 给, 成…

我听懂了。(Wǒ tīng dǒngle. – Tôi nghe hiểu rồi.)

我看见他了。(Wǒ kàn jiàn ta le. – Tôi nhìn thấy anh ta rồi.)

– Động từ + tính từ动词 + 形容词

Các tính từ làm bổ ngữ kết quả gồm có 对, 错, 好, 清楚, 早, 晚…

你说对了。(Nǐ shuō duì le. – Bạn nói đúng rồi.)

饭做好了. (Fàn zuò hǎole. – Cơm nấu xong rồi.)

4. Bổ ngữ xu hướng đơn

Cấu trúc: Động từ + 来/去

Các động từ có thể dùng bổ ngữ xu hướng gồm có hai loại: Động từ chỉ xu hướng và động từ thường

  • Động từ chỉ xu hướng:

Cấu trúc: 上, 下, 进, 出, 回, 过, 起  +  来/去

Khi động từ có tân ngữ:

+ Khi tân ngữ là danh từ chỉ địa điểm, ta có cấu trúc:

Động từ + tân ngữ địa điểm + 来 / 去

明天他回北京来 。(Míngtiān tā huí běijīng lái.)

Ngày mai anh ta sẽ quay về Trung Quốc.

他进图书馆去了。(Tā jìn túshū guǎn qùle. – Anh ta đi vào thư viện rồi.)

Khi tân ngữ là danh từ chỉ sự vật, ta có hai cách dùng:

Cách 1: Động từ +来 / 去 +Tân ngữ chỉ sự vật sự việc

我借来一本书。(Wǒ jiè lái yī běn shū. – Tôi mượn một cuốn sách.)

Cách 2: Động từ + Tân ngữ chỉ sự vật sự việc + 来/去

你快倒茶来!(Nǐ kuài dào chá lái! – Bạn mau rót trà ra đi!)

5. Bổ ngữ xu hướng kép

Cấu trúc: Động từ + 上,下, 进, 出, 回, 过, 起  + 来/去

Khi động từ có tân ngữ:

Khi tân ngữ là danh từ chỉ địa điểm, ta có cấu trúc:

Động từ  + 上,下, 进, 出, 回, 过, 起  + Tân ngữ chỉ địa điểm + 来/去

他走进教室来。(tā zǒu jìn jiàoshì lái. – Anh ta đi vào phòng học.)

Khi tân ngữ chỉ sự vật sự việc, có thể có hai cách diễn đạt:

Cách 1: Động từ + 上,下, 进, 出, 回, 过, 起  + 来/去 + Tân ngữ chỉ sự vật sự việc

他拿出来一本书。(Tā ná chūlái yī běn shū. – Anh ta lấy ra một cuốn sách.)

Cách 2: Động từ + 上,下, 进, 出, 回, 过, 起  + Tân ngữ chỉ sự vật sự việc +来/去

他拿出一本书来。(Tā ná chū yī běn shū lái. – Anh ta lấy ra một cuốn sách.)

Xem thêm: Chiết tự chữ Hán

Trên đây là những chủ điểm ngữ pháp tiếng Trung cơ bản cho người mới học tìm hiểu và bắt đầu quá trình học tiếng Trung của mình. Cùng học tiếng Trung mỗi ngày với chúng tớ nhé!

15 Th7

Vương Triều Hoàng Kim nhất trong lịch sử Trung Quốc

Rate this post

Sau thời đại vua Tần là thời kỳ hoàng kim, rực rỡ nhất của vương triều Hán. Triều đại Hán gồm có Tây Hán b( 206 – 25 trước công nguyên ), kinh đô là Tràng An và Đông Hán ( 25 – 220 ) kinh đô ở Lạc Dương.

Trước tiên chúng ta sẽ cùng tìm hiểu thời kỳ Tây Hán , bắt đầu với Hán Cao Tổ Lưu Bang. Cao Tổ (Lưu Bang) vốn là một nông dân vô học, làm đình trưởng (như cai trạm) thời nhà Tần, nhờ bọn sĩ Tiêu Hà, Trương Lương, Hàn Tín, Trần Bình, Anh Bố, Bành Việt… mà thắng được Sở Bá Vương. Ông cho đó là công lao của mình và không cần dùng đến họ nhưng rồi ông ta cũng phải nhận rằng có thể ngồi trên lưng ngựa mà chiếm thiên hạ, chứ không thể ngồi trên lưng ngựa mà trị thiên hạ, nên phải nghe lời Thúc Tôn Thông, Lục Giả, Lịch Tự Cơ theo phép tắc thời trước mà đặt ra triều nghi, từ đó triều đình mới có trật tự, có vẻ tôn nghiêm.


Tuy nhiên ông vẫn cấm đạo Nho, vẫn không bỏ hiệp thư (lệnh đốt sách Nho); mà cũng như Tần Thủy Hoàng, rất mê Đạo giáo. Trong 7 năm trị vì Hán Cao Tổ đã tăng cường ách thống trị tập quyền trung ương, chế định một loạt phương châm chính trị “cùng nghỉ với dân”, đã củng cố ánh thống trị của mình. Năm 159 trước công nguyên, sau khi Hán Cao Tổ băng hà, Huệ đế kế vị, nhưng lúc đó quyền lực thực tế đã nằm trong tay hoàng hậu Hán Cao Lã Trĩ. Hoàng hậu Lã Trĩ nắm quyền trong 16 năm, là một trong số ít những phụ nữ nắm quyền thống trị trong lịch sử Trung Quốc. Năm 183 trước công nguyên, Văn Đế kế vị, ông và người con là Cảnh Đế  ( năm 156-143 trước công nguyên ) tiếp tục thi hành phương châm chính sách “cùng nghỉ với dân”, giảm bớt thuế khóa, khiến cho đế chế nhà Hán phát triển hưng thịnh, các nhà sử học gọi thời kỳ này là “Văn Cảnh chi trị”. Tuy nhiên, Văn đế hiền quá, thiếu cương quyết, bọn chư hầu dần dần kiêu căng, Hung Nô càng không kiêng nể, do đó, Cảnh đế trong 16 năm cầm quyền phải lo dẹp một cuộc nổi loạn của bảy chư hầu ở Ngô, Sở, Triệu… và đối phó với Hung Nô , mở rộng phạm vi thống trị của vương triều nhà Hán, đảm bảo cho phát triển kinh tế, văn hóa của vùng miền bắc nhà Hán. Vũ đế lúc cuối đời ngừng các cuộc chinh chiến, chuyển sang ra sức phát triển nông nghiệp, làm cho kinh tế nhà Hán tiếp tục phát triển. Sau đó Chiêu Đế kế vị tiếp tục phát triển kinh tế, làm cho nhà Hán thịnh vượng tới đỉnh cao.

Sau 38 năm thi hành chính sách “Cùng nghỉ với dân” của Chiêu Đế và Tuyên Đế, nhà Hán không ngừng đi lên , phát triển hưng thịnh nhân dân đủ cơm no áo mặc, hạnh phúc bình ổn. Kinh tế, chính trị ổn định làm cho ngành thủ công, thương nghiệp, văn nhân nghệ thuật cũng như khoa học tự nhiên có bước phát triển vượt bậc. Cùng với khoa học-kỹ thuật được nâng cao làm cho năng suất của các ngành thủ công với luyện kim và dệt làm chính thời Tây Hán được nâng cao rất lớn, ngành thủ công phát triển đã thúc đẩy ngành thương nghiệp phồn thịnh, thông qua con đường tơ lụa đã mở ra sự giao lưu các mặt ngoại giao, thương mại…với các nước Tây Á Nhưng rồi vì hoạn quan và ngoại thích, Hán bị Vương Mãng (một ngoại thích) thoán quyền, mới đầu tự xưng là Giả Hoàng đế (nghĩa là thay quyền Hoàng đế), sau tiến hẳn ngôi vua, đổi quốc hiệu là Tân vào năm thứ 8 công nguyên.

Thời kỳ là Đông Hán do Hán Quang Vũ đế Lưu Tú sáng lập. Ông thiên đô qua Lạc Dương, nên nhà Hậu Hán cũng có tên là Đông Hán. Cũng như Thương, Chu, thời nào yếu thì dời đô qua Đông. Năm thứ 2 Kiến Vũ, Quang Vũ đế ra lệnh cải cách toàn diện chính sách cũ của Vương Mãng, chỉnh đốn quan lại, thành lập Thượng thư gồm 6 người phụ trách đại sự quốc gia để làm suy yếu hơn nữa quyền hạn của tam công, tức Thái Úy, Tư Đồ và Tư Không; phế bỏ “quan nô”; thanh tra đất đai làm cho đời sống của nhân dân dần dần ổn định. Đến giữa thế kỷ thứ nhất, trải qua sự thống trị của 3 đời vua là Quang Vũ Đế, Minh Đế và Chương Đế, vương triều Đông Hán đã từng bước lấy lại sự thịnh vượng của nhà Hán trước đây, thời kỳ này được người đời sau gọi là “Quang Vũ Trung Hưng”.  Thời kỳ đầu Đông Hán, do chính quyền được tăng cường một bước và hội nhập với thế lực địa phương làm cho đất nước ổn định, kinh tế, văn hoá, khoa học-kỹ thuật…đều vượt thời Tây Hán. Năm 105 công nguyên, Thái Luân cải tạo công nghệ làm giấy khiến cho phương thức ghi chép văn tự của Trung Quốc đã thoát khỏi thời đại ghi vào những thẻ tre, đồng thời kỹ thuật làm giấy cũng trở thành một trong 4 phát minh thời cổ Trung Quốc được lưu truyền cho đến ngày nay.

Về mặt khoa học tự nhiên đã thu được thành tựu rất cao mà tiêu biểu của giới học thuật Đông Hán là Trường Hoành. Trương Hoành đã chế tạo ra các thiết bị khoa học như “Hồn thiên nghi” “Địa động nghi” …Ngoài ra, danh y Hoa Đà cuối thời Đông Hán là bác sĩ ngoại khoa đầu tiên kể từ khi có sử ký ghi lại đến nay sử dụng kỹ thuật gây mê để phẫn thuật điều trị cho người bệnh.

Về sau những ông vua kế vị Lưu Tú đều không đủ sức để đưa nhà Hán hưng thịnh mà ngày càng đi tới suy thoái và cuối cùng là chấm dứt 1 triều đại phồn vinh mở ra 1 trang mới trong lịch sử – thời kỳ Tam Quốc.

Trên đây Trung tâm tiếng trung đã giới thiệu tới các bạn bài viết: “Mẫu câu tiếng Trung kinh điển trong phim Trung Quốc”. Hi vọng bài viết sẽ giúp ích phần nào cho quý khách am hiểu hơn về tiếng trung cũng như các tự hoc tieng trung hiệu quả.

13 Th7

Tuân Tử – Nhà nho, nhà tư tưởng Trung Quốc

Tuân Tử – Nhà nho, nhà tư tưởng Trung Quốc
5 (100%) 1 vote

Nhà nho, nhà tư tưởng Trung Quốc Tuân Tử. Tìm hiểu những câu chuyện về nhà nhà nho Tuân Tử cùng Thanhmaihsk nhé!

Nhắc đến Tuân Tử hẳn chúng ta ai cũng sẽ nhớ đến “ Thuyết Tuân Tử” và cũng như tính bản ác mà ông nêu ra đối lập với tính bản thiện của Mạnh Tử. Vậy Tuân Tử là ai, hôm nay chúng ta cùng tìm hiểu nhé!

Tuân Tử và học thuyết “nhân chi sơ tính bản ác”

Tuân Tử là ai?

Tuân Tử tự là Khanh hay còn gọi là Tôn Khanh, sống ở cuối thời kỳ Chiến quốc, là người nước Triệu. Cống hiến lớn nhất của Tuân Tử đó chính là tiến hành cải tạo tư tưởng “ Lễ” của Nho gia . Ông được coi là một danh nhân văn hóa, đóng góp rất lớn cho nền văn hóa đồ sộ của Trung Quốc.

Tuân Tử cũng coi trọng lễ nhưng lễ của Tuân Tự lại không giống với lễ của Khổng Tử. Lễ của Khổng Tử là Châu Lễ còn Lễ của Tuân Tử là Lễ của  thời đại chiến quốc. Ông kết hợp cả lễ và pháp vào với nhau, ngoài đạo đức ra trong lễ còn có pháp.

Đối với học thuyết “ Nhân Chính” của Mạnh Tử, Tuân Tử cho rằng, trong tình hình các nước chư hầu không ngừng tranh đấu, giành giật nếu chỉ có nhân chính thì không đủ mà còn phải tiến hành chính sách tác chiến, tăng cường thế lực của quốc gia. Tư tưởng quan điểm này của Tuân Tử thực tế là quá độ từ “ Lễ Trị” của Nho gia lên “ Pháp Trị” của Pháp gia.

Học thuyết của Tuân Tử

Đối lập với thuyết “ nhân chi sơ tính bản thiện” của Mạnh Tử, Tuân Tử lại cho rằng “ nhân chi sơ tính bản ác”. Học thuyết tính ác của Tuân Tử có nghĩa rằng, con người sinh ra vốn dĩ là ác, có được thiện là do quá trình bồi dưỡng, giáo dục mà có. Ông cho rằng, con người khi sinh ra có đầy đủ dục vọng như ham lợi , ham sắc… Nếu như con người cứ phát triển theo dục vọng thì mối quan hệ giữa người và người sẽ phát sinh ra tranh đấu và tạo nên 1 xã hội hỗn loạn, do đó mới cần phải có “ lễ nghi” để điều chỉnh, sửa đổi bản tính ác của cong người, tránh tạo ra 1 xã hội hỗn loạn phức tạp.

Còn đối với mối quan hệ giữa người và trời, quan điểm của Tuân tử khác hẳn với những quan điểm của các nhà tư tưởng trước đó , đó là “ con người nhất định sẽ thắng đợi trời”. Ông cho rằng “ trời” tồn tại 1 cách khách quan, có quy luật khách quan của trời, sẽ không vì ý chí của con người mà chuyển dời nhưng con người thì khác có thể phát huy tính năng động chủ quan của mình, lợi dụng quy luật tự nhiên để chiến thắng tự nhiên , tiến hành cải tạo theo ý muốn của mình. Tư tưởng này của Tuân Tử cho thấy 1 bước phát triển tiến bộ so với tư tưởng “ nghe theo mệnh trời” của Khổng Tử và Mạnh Tử.

Thành tựu của Tuân Tử đối với Nho học

Giả thử chúng ta nhìn Nho học bằng khái niệm tổng quát, thì thấy Khổng Tử thuộc về đạo “Nhân”, Mạnh Tử thuộc về đạo “Nghĩa”, còn Tuân Tử thì thuộc về đạo “Trí”. Nhân giả, giàu tình thương, có lòng thành khẩn và tâm hồn quảng đạt; Nghĩa giả, cương trực tiết tháo, thị phi phân minh, biểu lộ khí phách hiên ngang, độc lập của phần tử trí thức; Trí giả, nhận xét sự vật bằng lý tính, phải là phải, trái là trái, không bị ảnh hưởng bởi tình cảm. Dùng lý trí khách quan của Tuân Tử, bổ túc cho đạo đức chủ quan của Khổng – Mạnh, giúp cho chủ thuyết Nho học càng hoàn hảo hơn, hội đủ điều kiện tất yếu, vừa là giáo phái, vừa là học phái. Phần bổ túc đó, có ba điểm trọng đại nhất sau đây:
1/- Túc dục: Khổng Tử từng chủ trương “tiên phú hậu giáo” Mạnh Tử cũng từng khuyên vua chúa, nên hữu sản hóa cho lê dân, chứng tỏ Nho học đã có sẵn quan niệm “túc dục” (thỏa mãn cho đòi hỏi). Song, quan niệm đó, vô tình lại mâu thuẫn với giá trị căn bản trong tư tưởng Khổng – Mạnh, như Khổng Tử từng bảo: “Quân tử mưu đạo bất mưu thực”. Và Mạnh Tử cũng kêu gọi người đời nên “quả dục” (bớt đòi hỏi đi). Trái lại, giá trị căn bản của Tuân Tử bất do Nhân, bất do Nghĩa mà đánh giá vào chữ LỄ”. Một trong những công hiệu của Lễ, là “Dưỡng nhân chi dục cấp nhân chi cầu”. (Chấp nhận những đòi hỏi chính đáng của người ta, và thỏa mãn theo nhu cầu cho người ta). Cho nên Tuân Tử đề xướng chính sách tăng gia sản xuất cho nước giàu mạnh, đặng có đủ điều kiện “túc dục” cho dân.
2/- Hợp quần: Đây là tư tưởng xã hội của Tuân Tử với câu: “Lực bất nhược ngưu, tẩu bất nhược mã, nhi ngưu mã vi dụng hà giã? Viết: Nhân năng quần, bỉ bất năng quần… Cố nhân sinh bất năng vô quần, quần nhi vô phấn tắc tranh, tranh tắc loạn, loạn tắc ly, ly tắc nhược, nhược tắc bất năng thắng vật… Năng dĩ sư thân vị chi hiếu, năng dĩ sư huynh vị chi dễ, năng dĩ sư thượng vị chi thuận, năng dĩ sư hạ vị chi quân. Quân giả, thiện quần giã, quần đạo đương, tắc vạn vật giai đắc kỳ nghi”. (Sức chẳng mạnh bằng trâu, chạy chẳng nhanh bằng ngựa, sao trâu ngựa lại để cho ta khiển dụng? Câu trả lời là: Người ta biết hợp quần, trâu ngựa không biết hợp quần… Cho nên người ta sinh ra chẳng thể không hợp quần, nhưng đã hợp quần mà không định phận là tranh giành nhau, hễ tranh là loạn, loạn thì chia rẽ nhau, chia rẽ nhau thì yếu, đã yếu thì chẳng thành tựu được việc gì cả… Biết lấy đạo hợp quần mà thờ song thân gọi là hiếu, biết lấy đạo hợp quần mà trọng đàn anh, gọi là đễ, biết lấy đạo hợp quần mà kính bề trên, gọi là thuận, biết lấy đạo hợp quần mà xử kẻ dưới, gọi là chúa. Người làm chúa phải giỏi đạo hợp quần, đạo hợp quần tốt, là tất cả mọi sự vật đều được giải quyết một cách thỏa đáng). Đoạn văn này của Tuân Tử gồm có bốn điểm chánh sau đây:
(1) Hợp quần là một trong những đặc tính của loài người. Nói khác đi, con người là loài động vật có đặc tính xã hội, nhờ vậy mới ưu việt hơn các loài động vật khác.
(2) Hợp quần tốt, là một phương thức giải quyết được các vấn đề phân tranh trong xã hội.
(3) Hợp quần cũng là một phương cách, tiến hành sự việc chung trong xã hội, và mọi người đều có vị trí cùng quyền lợi tương xứng.
(4) Tuân Tử muốn lấy đạo hợp quần thay thế cho giá trị cũ của đạo hiếu đễ. Nghĩa là, một khi con người ta đã góp phần cống hiến thích đáng cho xã hội, thì kể như đã làm tròn bổn phận trong đạo Hiếu và Để rồi.
3/- Bình đẳng: Khổng Tử từng chủ trương bình đẳng về kinh tế, như câu: “Bất hoạn quả nhi hoạn bất quân”. (Chẳng lo ít, chỉ lo chia không đều), nhưng tư tưởng bình đẳng của Tuân Tử thì hướng về địa vị xã hội nhiều hơn.
Bởi vì đưa ra chủ trương bình đẳng về kinh tế, trong lúc xã hội cổ Trung Quốc còn rất nghèo nàn về điều kiện vật chất, xét ra chẳng có ý nghĩa gì cho lắm. Trái lại, ý thức bình đẳng về địa vị xã hội, mới đúng là một đòn đả kích mạnh, nhắm vào chếđộ phong kiến, một thể chế chính trị bất hợp lý của tầng lớp quý tộc. Riêng về điểm này, Tuân Tử đã nói rất rõ: “Tuy vương, công, sĩ đại phu chi tử tôn, bất năng thuộc ư lễ nghĩa, tắc quy chi thứ nhân; tuy thứ nhân chi tử tôn giã, tích văn học, chánh thân hạnh, năng thuộc ư lễ nghĩa, tắc quy chi khanh tướng, sĩ đại phu’. (Dù là con cháu của bậc vương công, sĩ đại phu chăng nữa, nếu chẳng vào khuôn phép Lễ Nghĩa, thì nên đánh xuống hạng thường dân; tuy là con cháu của thường dân, giá như có học thức cao, hạnh kiểm tốt, thuộc vào khuôn phép Lễ Nghĩa, thì nên nâng lên hàng khanh tướng, sĩ đại phu).
Tuân Tử có thể kết luận là, một triết gia theo chủ nghĩa nhân bản. Ở Trung Quốc, Khổng Tử là người khởi xướng chủ nghĩa nhân bản, nhưng so sánh ra thì, chủ nghĩa nhân bản của Tuân Tử có nhiều tiến bộ hơn. Một là, tuy Tuân Tử cũng nhiệt tình với nền văn hóa truyền thống, nhưng không có ý phục cổ, trái lại, còn rất mạnh dạn phê bình người xưa. Ngoài Khổng Tử ra, ít có nhân vật tiêu biểu nào trong các học phái thời Chu Tần, thoát khỏi lời phê bình của Tuân Tử, kể cả Mạnh Tử và Tử Tư. Tuy nhiên, khi phê bình, Tuân Tử luôn luôn đứng vào cương vị học thuật để đánh giá tư tưởng của người khác. Hai là, Tuân Tử chú trọng thực tiễn hơn là lý thuyết suông, cho nên luôn luôn nhấn mạnh vấn đề chính trị xã hội, gạt bỏ mọi ý tưởng than thoại ảo huyền, theo đuổi lý tưởng giải phóng con người. Đáng liếc là, lừ đời Chu Tần trở đi, xã hội Trung Quốc vẫn là xã hội nặng về truyền thống, chính trị Trung Quốc vẫn là chính trị chuyên chếvua quan, thiếu các chất tố dân chủ khoa học như trong xã hội Tây phương, rút cuộc phong trào nhân văn, mà các triết gia thời Chu Tần đã khởi xướng trước đây trên hai ngàn năm, bị mai một từ đời nọ qua đời kia.

Trên đây Trung tâm tiếng trung THANHMAIHSK đã giới thiệu tới các bạn bài viết: “Tuân Tử – Nhà nho, nhà tư tưởng Trung Quốc”. Hi vọng bài viết sẽ giúp ích phần nào cho bạn am hiểu hơn về tiếng trung cũng như các học tiếng Trung hiệu quả.

Xem thêm:

13 Th7

去过越南就等于去过全世界,你相信吗?

Rate this post

Hiu hiu lâu rồi không gặp các bạn, có ai nhớ mình hem? Dạo này mình bận đi du lịch quá nên không biết cả nhà học hành như thế nào rồi nhỉ? Vừa về là mình lao vào viết luôn bài này cho cả nhà tham khảo nì. Hôm nay chúng ta không những được đi du lịch free mà còn học được tên các tỉnh , thành phố là những địa danh du lịch nổi tiếng của Việt Nam. Người ta nói 去过越南就等于去过全世界,你相信吗?( qù guò yuè nán jiù děng yú qù guò quán shì jiè , nǐ xiāng xìn ma ?)đến Việt Nam cũng chính là đến với tất cả các nước trên thế giới, bạn tin không? Nếu ai cũng đam mê du lịch như mình thì không nên bỏ qua bài ngày hôm nay và nếu như ai không tin thì nhất định sẽ tin ngay trong chốc lát!

Các bạn thử đoán xem đây là đâu? 老挝?不,这是我们越南得乐(lǎo wō ? bù , zhè shì wǒ men yuè nán dé lè ). Lào ư? không phải, đây chính là Đắc Lắc của chúng ta. Ở đây các bạn chú ý nhé老挝 có nghĩa là Lào và 得乐 chính là Đắc Lắc.

Còn đây là đâu vậy nhỉ? có ai thấy bức ảnh này giống thắng cảnh ở đất nước nào không? 是不是印度?不,这是越南安江省的茶狮 ( shì bú shì yìn dù ? bù , zhè shì yuè nán ān jiāng shěng de chá shī ). Mọi người chú ý nhé, thắng cảnh này rất giống với thắng cảnh của Indonesia ( cụ thể các bạn tra google sẽ thấy ^^) nhưng thực ra đây lại là rừng tram Trà Sư ở An Giang đấy. 安江 có nghĩa là tỉnh An Giang và 茶狮 là Trà Sư ( các bạn hãy tưởng tưởng như đang ngồi trên thuyền của cô thiếu nữ kia kìa ^^)

Hỏi thật là nhìn thấy bức ảnh này các bạn có thấy bị kích thích không? Khong biết đây là đâu mà đẹp quá ta? Có phải là 巴西(bā xī )Brazil với Sếu đầu đỏ hem nhỉ? Không phải đâu, đây chính là “ Đồng Tháp Mười thẳng cánh cò bay, nước Tháp Mười lấp lánh cá tôm” của Việt Nam mình đấy. 同塔(tóng tǎ )là Đồng Tháp nhóe !

Thật ra thì mình thấy bãi biển bãi tắm hay đảo nào cũng gần giông giống nhau những vẫn muốn đố các thánh biết đây là đâu đấy. Suy nghĩ kỹ trước khi trả lời nhé không lại nhầm với 1 hòn đảo Koh Samui của 泰国(tài guó )Thái Lan nhé! Mà thôi , mình nói luôn cho nhanh để còn vi vu chỗ khác nữa chứ. Đây chính là 我们越南的昆岛 ( wǒ men yuè nán de kùn dǎo ) Côn đảo của “ nhà mình” đấy.

Tiếp theo là gì ta?

Chào mừng các bạn đến với thế giới hoa của đất nước 荷兰(hé lán )Hà Lan. Có ai bị kích thích chưa? Nhưng thật tiếc là để ngắm được những bông hoa xinh đẹp này lại phải chạy đến Hà Lan tít tắp nhở? Nhưng … đây không phải ảnh chụp từ Hà Lan đâu các tình yêu ạ, đây là 大叻(dà lè )Đà Lạt nhé! Đà Lạt của Việt Nam cũng không khác gì đất nước hoa Hà Lan chút nào phải không?

Còn đây, đây không phải là 柬埔寨(jiǎn pǔ zhài )Cambodia đâu, thắng cảnh này thuộc vùng đất 美山(měi shān )Mỹ Sơn của chúng mình nha. Nó cổ kính và lôi cuốn y như Cambodia vậy! ^^

Thật ra thì khi nhìn bức ảnh này mình có chút nghi hoặc không biết đây có phải là 玻利维亚(bō lì wéi yà )Bolivia hay không nhưng mà nhìn thấy những người làm muỗi cần mẫn kia thì mình đã khẳng định được luôn đây chỉ có thể là 庆和(qìng hé )Khánh Hòa của nhà ta mà thôi, không thể lẫn vào đâu được.

Và cuối cùng là gì đây?

Đúng là tuyệt tác của tạo hóa bọp nghẹt trái tim trái tim này mà. Đây không phải là 菲律宾(fēi lǜ bīn )Philippines mà là 下龙湾仙境(xià lóng  wān xiān jǐng )tiên cảnh vịnh Hạ Long mà tạo hóa đã ban tặng cho đất nước ta. Một vịnh Hạ Long 独一无二(dú yī wú èr )có một không hai trên thế giới!

Hoy, chúng mình tạm thời du lịch đến đây thôi nhỉ, giờ là lúc cùng nhau điểm lại những địa danh và đất nước trong tiếng Trung mà hôm nay chúng ta học được nhé!

老挝: lǎo wō : Lào

得乐:dé lè: Đắc Lắc

印度尼西亚:yīn dù ní sī yà : Indonesia

安江省: ān jiāng shěng : An Giang

茶狮: chá shī: Trà Sư

巴西(bā xī )Brazil

同塔(tóng tǎ )Đồng Tháp

泰国(tài guó )Thái Lan

昆岛: kùn dǎo : Côn đảo

荷兰(hé lán )Hà Lan

大叻(dà lè )Đà Lạt

柬埔寨(jiǎn pǔ zhài )Cambodia

美山(měi shān )Mỹ Sơn

玻利维亚(bō lì wéi yà )Bolivia

庆和(qìng hé )Khánh Hòa

菲律宾(fēi lǜ bīn )Philippines

下龙湾仙境(xià lóng  wān xiān jǐng )tiên cảnh vịnh Hạ Long

Trên đây Trung tâm tiếng trung đã giới thiệu tới các bạn bài viết: “去过越南就等于去过全世界,你相信吗?”. Hi vọng bài viết sẽ giúp ích phần nào cho quý khách am hiểu hơn về tiếng trung cũng như các tự hoc tieng trung hiệu quả.

LỊCH KHAI GIẢNG CHI TIẾT CÁC KHÓA TIẾNG TRUNG TRONG THÁNG 8/2018XEM CHI TIẾT
hotline