06 Th9

Caption tiếng Trung hay và ý nghĩa cho bạn

Hình ảnh Caption tiếng Trung hay và ý nghĩa cho bạn 1
Rate this post

Tổng hợp những caption tiếng Trung hay. Những cap tiếng Trung hay và độc đáo. Xem ngay những stt tiếng Trung hay để chia sẻ với bạn bè nhé!

Bạn là người thích đăng bài chia sẻ với bạn bè trên những trang mạng xã hội. Bạn muốn có những dòng caption hay tâm trạng thật đúng với tâm trạng của bạn. Phải làm sao ta? Dưới đây, trung tâm tiếng Trung THANHMAIHSK xin giới thiệu với bạn những caption tiếng Trung hay cho bạn nhé! Lưu về để đăng dần nha!

hinh-anh-caption-tieng-trung-hay-va-y-nghia-cho-ban-1

Những caption tiếng Trung hay cho bạn

1. 喜欢一个人,并不一定要爱他
但爱一个人的前提,却是一定要喜欢他。
Xǐhuan yí ge rén, bìng bù yídìng ài tā
Dàn ài yí ge rén de qián tí, què shì yídìng yào ài tā.
Thích một người không nhất định là phải yêu anh ta
Nhưng điều kiện trước tiên để yêu một người nhất định là phải thích.

2. 如果两个人注定要在一起,他们总会找到办法找回彼此。
Rúguǒ liǎng ge rén zhùdìng yào zài yīqǐ, tāmen zǒng huì bānfǎ zhǎo huí bǐcǐ.
Nếu như hai người đã có chủ định cùng nhau đi đến con đường, cuối cùng thì người ta cũng sẽ tìm được cách để trở về bên nhau.

3. 喜欢很容易转变为爱,但爱过之后却很难再说喜欢。因为喜欢是宽容的,而爱,则是自私的。
Xǐhuan hěn róngyì zhuǎnbiàn wéi ài, dàn ài guò zhī hòu què hěn nán zài shuō xǐhuan. Yīnwèi xǐhuan shì kuānróng, ér ài, zé shì zìsī de.
Thích rất dễ để chuyển thành yêu, còn sau khi đã yêu một thời gian thì rất khó để quay trở về thích. Vì thích là khuan dung mà yêu là ích kỉ.

4. 爱一个人很难,放弃自己心爱的人更难。
Ài yí ge rén hěn nán, fàngqì zìjǐ xīnài de rén gèng nán.
Yêu một người đã khó, quên đi người mình yêu lại càng khó.

5. 你可以用爱得到全世界
你也可以用恨失去全世界。
Nǐ kěyǐ yòng ài dé dào quán shìjiè
Nǐ yě kěyǐ yòng hèn shīqù quán shìjiè.
Bạn có thể dùng tình yêu để được cả thế giới
Bạn cũng có thể dùng hận thù đánh mất cả thế giới

6. 世界上最心痛的感觉不是失恋
而是我把心给你的时候你却在欺骗我。
Shìjiè shàng zuì xīntòng de gǎnjué bú shì shīliàn
Ér shì wǒ bǎ xīn gěi nǐ de shíhòu, nǐ què zài qīpiàn wǒ.
Cảm giác đau lòng nhất trên đời này không phải là thất tình
Mà là khi em trao trái tim này cho anh, anh lại lừa gạt em.

7. 爱情使人忘记了时间, 时间也使人忘记了爱情。
Àiqíng shǐ rén wàngjì le shíjiān, shíjiān yě shǐ rén wàngjì le àiqíng.
Tình yêu làm con người quên đi thời gian, thời gian cũng làm con người quen đi tình yêu.

8. 爱情原来是含笑喝饮毒酒。
Àiqíng yuánlái shì hánxiào hē yǐn dú jiǔ.
Tình yêu vốn dĩ là mỉm cười uống rượu độc.

9. 我喜欢的人是你,从前也是你,现在也是你,以后也是你。
Wǒ xǐhuan de rén shì nǐ, cóngqián yě shì nǐ, xiànzài yě shì nǐ, yǐhòu yě shì nǐ.
Người mà anh thích chính là em, trước kia, bây giờ và sau này cũng là em.

10. 对于世界而言,你是一个人,但是对于我,你是我的整个世界。
Duì yú shìjiè ér yán, nǐ shì yí ge rén, dànshì duì wǒ ér yán, nǐ shì wǒ de zhēng shìjiè.
Đối với thế giới, em chỉ là một người trong đó, nhưng đối với anh, em là cả thế giới của anh.

11. 我不能说我有多爱你,因为这个问题应该交由你来判断;我只能说我很在乎你,因为你的情绪总能影响我的决定。
(wo bu neng shuo wo you duo ai ni ,yin wei zhe ge wen ti ying gai jiao you ni lai pan duan ;wo zhi neng shuo wo hen zai hu ni ,yin wei ni de qing xu zong neng ying xiang wo de jue ding 。)

Anh không thể nói anh yêu em đến nhường nào, bởi vì, vấn đề này hãy để em phán đoán; anh chỉ có thể nói rằng anh rất coi trọng em, bởi vì, tâm trạng em luôn ảnh hưởng tới quyết định của anh.

12. 圆规为什么可以画圆?因为脚在走,心不变。你为什么不能圆梦?因为心不定,脚不动。
(yuan gui wei shi me ke yi hua yuan ?yin wei jiao zai zou ,xin bu bian 。ni wei shi me bu neng yuan meng ?yin wei xin bu ding ,jiao bu dong 。)

Compa vì sao có thẻ vẽ hình tròn? Vì chân bước nhưng tâm điểm không thay đổi. Tại sao bạn không thực hiện được ước mơ? Vì tư tưởng thiếu vững vàng, đôi chân lại không cất bước.

13. 好多年来,我曾有过一个“良好”的愿望:我对每个人都好,也希望每个人都对我好。只望有誉,不能有毁。最近我恍然大悟,那是根本不可能的。
(hǎo duō nián lái ,wǒ céng yǒu guò yī gè “liáng hǎo ”de yuàn wàng :wǒ duì měi gè rén dōu hǎo ,yě xī wàng měi gè rén dōu duì wǒ hǎo 。zhī wàng yǒu yù ,bú néng yǒu huǐ 。zuì jìn wǒ huǎng rán dà wù ,nà shì gēn běn bú kě néng de )

Rất nhiều năm nay, tôi từng có một nguyện vọng “tốt đẹp”: Tôi đối xử tốt với mọi người, cũng mong mọi người đối xử tốt với tôi. Chỉ mong giữ chứ không muốn phá vỡ danh dự. Mới đây, tôi mới vỡ lẽ ra rằng, điều đó hoàn toàn không thể thực hiện được.

hinh-anh-caption-tieng-trung-hay-va-y-nghia-cho-ban-2

Cap tiếng Trung hay về tình yêu, bạn bè và cuộc sống

23 cap tiếng Trung hay để chia sẻ cảm xúc

14. 要学会说三句话:无法改变的事实我接受;错了我改,但不悔恨;天不能常阴,夜不能常黑,一切都会过去。
(yào xué huì shuō sān jù huà :wú fǎ gǎi biàn de shì shí wǒ jiē shòu ;cuò le wǒ gǎi ,dàn bú huǐ hèn ; tiān bú néng cháng yīn ,yè bú néng cháng hēi ,yī qiē dōu huì guò qù 。)

15. 我们的快乐,源于内心的真实,做最好的自己;我们的不幸,皆因内心的浮躁和空虚。
(wǒ men de kuài lè,yuán yú nèi xīn de zhēn shí,zuò zuì hǎo de zì jǐ;wǒ men de bú xìng,jiē yīn nèi xīn de fú zào hé kōng xū。)

Niềm vui của chúng ta, bắt nguồn từ sự thành thật của nội tâm, hãy sống là chính mình; nỗi bất hạnh của chúng ta, đều do sự nông nổi và trống trải của nội tâm.

16. 烦恼并不是因为拿起太多,而是因为不肯放下。
(fán nǎo bìng bú shì yīn wéi ná qǐ tài duō,ér shì yīn wéi bú kěn fàng xià。)

Phiền não không phải do sở hữu quá nhiều, mà là do không nỡ buông bỏ.

17. 在抱怨自己赚钱少之前,先努力,学着让自己值钱。
(Zài bàoyuàn zìjǐ zhuànqián shǎo zhīqián, xiān nǔlì, xuézhe ràng zìjǐ zhíqián.)
Trước khi kêu ca mình kiếm tiền ít, hãy nỗ lực trước, khiến mình “đáng giá” hơn.

18. 学历代表过去,学习能力才代表将来。
(Xuélì dàibiǎo guòqù, xuéxí nénglì cái dàibiǎo jiānglái.)
Quá trình học chỉ đại diện cho quá khứ, năng lực học tập mới đại diện cho tương lai.

19. 不为模糊不清的未来担忧,只为清清楚楚的现在努力。
(Bù wéi móhú bù qīng de wèilái dānyōu, zhǐ wèi qīng qīngchǔ chǔ de xiànzài nǔlì.)
Đừng lo lắng về tương lai mơ hồ, chỉ nỗ lực vì hiện tại rõ ràng.

20. 只有先改变自己的态度,才能改变人生的高度。
(Zhǐyǒu xiān gǎibiàn zìjǐ de tàidù, cáinéng gǎibiàn rénshēng de gāodù.)
Chỉ có thay đổi thái độ của mình trước mới có thể thay đổi độ cao của cuộc đời.

21. 有些事情不是看到希望才去坚持,而是坚持了才看得到希望。
(Yǒuxiē shìqíng bùshì kàn dào xīwàng cái qù jiānchí, ér shì jiānchíle cái kàn dédào xīwàng.)
Một số việc không phải vì thấy được hy vọng mới kiên trì, mà là kiên trì rồi mới nhìn thấy hy vọng.

22. 耐得住寂寞才能守得住繁华,该奋斗的年龄不要选择了安逸。
(Nài dé zhù jìmò cáinéng shǒu dé zhù fánhuá, gāi fèndòu de niánlíng bùyào xuǎnzéle ānyì.)
Chịu đựng được nỗi cô đơn mới có thể giữ được vinh hoa, đừng lựa chọn cuộc sống nhàn hạ vào độ tuổi cần phấn đấu nỗ lực.

23. 你所做的事情,也许暂时看不到成功,但不要灰心,你不是没有成长,而是 在扎根。
(Nǐ suǒ zuò de shìqíng, yěxǔ zhànshí kàn bù dào chénggōng, dàn bùyào huīxīn, nǐ bùshì méiyǒu chéngzhǎng, ér shì zài zhágēn.)
Những điều mà bạn đang làm, có lẽ tạm thời không thành công, nhưng đừng nản chí, bạn không phải không trưởng thành, mà là đang bám rễ.

Trên đây là những stt tiếng Trung hay để bạn lưu lại và chờ thời cơ để đăng lên nhé!

Đây là cũng là 1 cách để bạn rèn luyện tiếng Trung tốt hơn đó!

22 Th8

Câu phán đoán trong tiếng Trung

Câu phán đoán trong tiếng Trung
5 (100%) 1 vote

Học ngữ pháp tiếng Trung về câu phán đoán trong tiếng Trung. Bài học ngữ pháp tiếng Trung hay và bổ ích cho bạn mỗi ngày.

Ngữ pháp tiếng Trung rất quan trọng và buộc bạn phải “yêu thương” nó nhiều hơn hihi. Kiến thức ngữ pháp thì rất đa dạng đó bạn. Và bài học hôm nay trung tâm tiếng Trung THANHMAIHSK muốn giới thiệu cho bạn đó là câu phán đoán tiếng Trung.

Ngữ pháp tiếng Trung: Câu phán đoán

Định nghĩa câu phán đoán trong tiếng Trung

Câu phán đoán dùng để giải thích rõ một sự vật là gì hoặc không phải là gì.Dựa vào tính chất của vị ngữ để phân loại đƣợc hình thức câu, vị ngữ thường là danh từ hoặc cụm danh từ,dựa vào tính chất của sự vật để đưa ra phán đoán.

Cách nhận biết câu không phải là câu phán đoán

1. Câu không mang nghĩa phán đoán thì không phải là câu phán

Ví dụ:
―蟹六跪而二螯。
―永州乀野亠异蛇,黑质而白章。

Mặc dù các câu trên đều là câu vị danh từ nhưng lại không phải là câu phán đoán.Ở cả câu vị ngữ đều là danh từ nhưng lại không mang nghĩa phán đoán mà lại nghiêng về miêu tả.

2. Câu phán đoán không được là câu vị động từ

Đặc biệt là câu dùng 为 tạo thành.

Ví dụ:

夫执舆者为谁?
颍考叔为颍谷封人。

Ngữ pháp tiếng Trung câu phán đoán cổ đại, 为 là động từ có ý nghĩa rất rộng lớn,để giải thích được chính xác thường phải dựa theo nghĩa câu văn. Ở 2 câu trên thì 为 dường như đều mang ý nghĩa như 是. Có người cho rằng 2 câu trên là câu phán đoán nhưng đấy chỉ là sự nhầm lẫn.

Câu dùng 为 thường mang tính tường thuật.Xét về mặt ý nghĩa thì giống như câu phán đoán dùng 为 tuy nhiên thực tế thì đều là câu tường thuật.

Đặc điểm chính của câu phán đoán

Không giống tiếng hán hiện đại bây giờ trong tiếng hán cổ đa phần câu phán đoán không dùng 是 mà dùng vị danh từ trực tiếp nói lên nghĩa phán đoán. Phần cuối câu thuờng thêm từ ngữ khí 也 để nhấn mạnh.

是 có thể đảm nhiệm nhiều thành phần của câu

Ví dụ

南冥者,天池也。

Trong câu 是社稷乀臣也。 thì 是làm chủ ngữ

Trong câu 主爵都尉汲黯是魏其。 是卲讣为是对癿。 thì 是 làm vị ngữ

Trong câu 是岁,元呾四年也。 thì 是 làm định ngữ

Tiêu chuẩn để tạo nên câu phán đoán là phía trước luôn là danh từ hoặc đại từ.

Cấu trúc câu phán đoán tiếng Trung

Câu phán đoán trong tiếng hán cổ danh từ thường làm vị ngữ . Có 4 kiểu cơ bản tạo thành câu phán đoán. Dựa trên việc dùng hoặc không dùng 者、也 sau vị ngữ có thể thêm từ ngữ khí 也 để nhấn mạnh thêm, cũng có thể thêm 者 sau chủ ngữ để chỉ lại chủ ngữ.

Cấu trúc 1. chủ ngữ + 者 + vị ngữ + 也。

Cấu trúc 2. chủ ngữ + vị ngữ + 也。

Cấu trúc 3. chủ ngữ + 者+vị ngữ。

Cấu trúc 4. chủ ngữ + vị ngữ。

Trên đây là những kiến thức về câu phán đoán tiếng Trung mà tớ thu thập được, hi vọng sẽ giúp ích cho bạn khi học tiếng Trung nhé!

Xem thêm:

26 Th5

Zhuyin là gì? Học bảng chú âm phù hiệu tiếng Trung

Hình ảnh zhuyin là gì?
Rate this post

Zhuyin là gì? Bảng chú âm phù hiệu tiếng Trung. Học tiếng Trung cơ bản cùng Thanhmaihsk.

Học tiếng Trung đang trở thành một xu hướng trong thời buổi công nghệ 4.0 hiện nay. Nhiều bạn băn khoăn không biết zhuyin là gì và nhiều thuật ngữ liên quan. Bài viết hôm nay, Trung tâm tiếng Trung Thanhmaihsk sẽ giúp bạn hiểu rõ nhé!

Học tiếng Trung về zhuyin

Zhuyin là gì?

Zhuyin hay còn gọi là chú âm phù hiệu (phồn thể: 注音符號; Bính âm Quan Thoại: bōpōmōfō; Việt bính: bo1 po1 mo1 fo1.

Chú âm phù hiệu: ㄓㄨˋ ㄧㄣ ㄈㄨˊ ㄏㄠˋ) hay chú âm là một loại chữ viết dùng để ký hiệu cách phát âm các chữ Hán trong tiếng Quan Thoại Trung Quốc.

Bảng chữ cái chú âm gồm có 37 ký tự và 4 dấu thanh và có thể ký hiệu được toàn bộ các âm Quan Thoại của chữ Hán.

Chú âm phù hiệu được phổ biến rộng rãi ở Trung Quốc bởi Chính phủ Bắc Dương vào những năm 1910 và được dùng song song với hệ thống phiên âm chữ Hán Wade-Giles. Rồi hệ thống Wade-Giles được thay thế vào năm 1958 bằng hệ thống Bính âm Hán ngữ bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và tại Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế vào năm 1982.

Mặc dù Đài Loan đã chính thức không sử dụng hệ thống Wade-Giles từ năm 2009, chú âm phù hiệu vẫn được sử dụng chính thức và rộng rãi tại đây trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là giáo dục và đánh máy.

Khi bắt đầu học tiếng Trung cơ bản, thì việc học bảng chú âm tiếng Trung là bài học đầu tiên. Chính vì vậy, b đừng bỏ qua nhé!

Bảng chú âm phù hiệu Trung Quốc

Bảng chú âm tiếng Trung bao gồm các yếu tố sau:

– Phụ âm:

Chú âm phù hiệu
Bính âm b p m f d t n l g k h j q x zh ch sh r z c s
IPA b m f t n l k x tɕʰ ɕ tʂʰ ʂ ʐ ts tsʰ s

– Nguyên âm

Chú âm phù hiệu
Bính âm i u ü a o e ê ai ei ao ou an en n ang eng ng er r
IPA i u y a o ɤ ɛ ai ɛi ɑu ou an ɛn ən n ɑŋ əŋ ŋ ɚ r

– Thanh điệu

Thanh Âm bình Dương bình Thượng thanh Khứ thanh Khinh thanh
Chú âm ˊ ˇ ˋ ˙
phù hiệu

– Ngoại lệ

Chú âm ㄩㄥ ㄨㄥ ㄧㄥ ㄧㄣ ㄧㄝ ㄩㄝ
phù hiệu
Bính âm iong ong ing in ie üe

Chúc bạn học tiếng Trung thật tốt với bảng chú âm phù hiệu nhé!

Xem thêm:

20 Th3

Bảng đối chiếu chữ giản thể và phồn thể trong tiếng Trung

Bảng đối chiếu chữ giản thể và phồn thể trong tiếng Trung
5 (100%) 1 vote

THANHMAIHSK xin gửi bạn bảng đối chiếu chữ giản thể và phồn thể trong tiếng Trung để bạn tiện theo dõi và nhận biết được mặt chữ nhé!

Chữ Hán có hai cách viết đó là chữ giản thể và chữ phồn thể. Về cách đọc thì hai kiểu chữ này không khác nhưng cách viết thì khác nhau. Điều này bạn sẽ biết rõ khi được học viết của khóa cơ bản tiếng Trung cho người mới học. Vậy chữ giản thể và phồn thể là gì, sự khác nhau ở cách viết ra sao, bạn cùng tham khảo bài viết này nhé!

Chữ Hán giản thể: là một trong hai cách viết tiêu chuẩn của chữ Hán hiện nay. Cách viết này được chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa giản hóa từ chữ Hán phồn thể nhằm tăng tỷ lệ biết chữ và đơn giản hóa cách viết chữ Hán. Trung văn giản thể được sử dụng ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Singapore và Malaysia. Tuy nhiên, đây là một trong nhiều cách đơn giản hóa chữ Hán đã được thực hiện trong nhiều thế kỷ qua.

Loại chữ Hán giản thể này được tạo ra bằng cách giảm số nét viết của nhiều chữ Hán truyền thống. Nhiều chữ

được đơn giản hóa bằng cách áp dụng các quy luật thông thường, ví dụ như bằng cách thay thế một số bộ bằng bộ khác gần (theo cách mà chữ Hán đã được sáng tạo ra, đặc biệt là chữ biểu thị âm và ý nghĩa). Nhiều chữ được đơn giản hóa không theo quy tắc và nhiều chữ được đơn giản hóa thì không đồng dạng với chữ truyền thống.

Chữ Hán phồn thể, trong khi đó, được sử dụng ở Hồng Kông, Macau, Đài Loan và bởi nhiều cộng đồng Hoa kiều. Gần đây chữ Hán giản thể dần dần giành được sử phổ biến trong cộng đồng Hoa kiều do ngày càng có nhiều người Trung Quốc di cư ra nước ngoài.

Dưới đây là bảng so sánh khoảng 250 chữ Hán giữa phồn thể và giản thể để các bạn khi học tiếng Trung có thể nhận biết và đừng nghĩ là người khác viết sai nhé!

hinh-anh-bang-doi-chieu-chu-gian-va-phon-trong-tieng-trung-1

bang-doi-chieu-chu-gian-va-phon-trong-tieng-trung-2

bang-doi-chieu-chu-gian-va-phon-trong-tieng-trung-3

bang-doi-chieu-chu-gian-va-phon-trong-tieng-trung-4

Xem thêm:

TRUNG TÂM TIẾNG TRUNG THANHMAIHSK
Cơ sở 1: Số 15 ngách 26 ngõ 18 Nguyên Hồng – Đống Đa – HN
Điện thoại: 04 38359969. Hotline: 0931715889

Cơ sở 2: 18 BIS/3A Nguyễn Thị Minh Khai – Phường Đakao – Quận 1 – TP.HCM
Điện thoại: 08 66819261. Hotline: 0914506828

Cơ sở 3: Số BT11 Lô 16A1 Làng Việt Kiều Châu Âu Mộ Lao Hà Đông Hà Nội
Điện thoại: 0985.887.935

Cơ sở 4: Giảng đường D2 Đại học Kinh Tế Quốc Dân Hà Nội
Hotline: 04 38359969

13 Th3

Bảng phiên âm tiếng Trung cho người mới học

Bảng phiên âm tiếng Trung cho người mới học
4.6 (92%) 5 votes

Bảng phiên âm tiếng Trung với đầy đủ các thanh mẫu, phụ âm, nguyên âm, cho người mới học. Học phát âm tiếng Trung chuẩn tại THANHMAIHSK.

Học tiếng Trung cơ bản cho người mới bắt đầu là lộ trình đầu tiên cho ai muốn chinh phục tiếng Trung. Hãy cùng bắt đầu hành trình đó cùng Trung tâm tiếng Trung THANHMAIHSK với bài học về bảng phiên âm tiếng Trung nhé!

hinh-anh-bang-phien-am-tieng-trung-1

hinh-anh-bang-phien-am-tieng-trung-2

Bảng chữ cái tiếng Trung cho người mới học

hinh-anh-bang-phien-am-tieng-trung-3

hinh-anh-bang-phien-am-tieng-trung-4

hinh-anh-bang-phien-am-tieng-trung-5

Với bảng phiên âm tiếng Hoa này, các bạn có thể đọc thành thạo chữ Pinyin khi kết hợp với việc phát âm các dấu trong tiếng Trung!

Đây là bài học không thể bỏ qua, hãy cố gắng học nhé các bạn!

Trung tâm dạy học tiếng Trung Quốc THANHMAIHSK đồng hành cùng bạn trên con đường chinh phục tiếng Trung!

06 Th3

Chữ an trong tiếng Hán-Học tiếng Trung với THANHMAIHSK

hình ảnh Chữ an trong tiếng Hán-Học tiếng Trung với THANHMAIHSK 1
Rate this post

Ý nghĩa chữ an trong tiếng Hán, bàn về các tầng lớp nghĩa của chữ an trong tiếng Trung. Học tiếng Hoa với THANHMAHSK để yêu và hiểu tiếng Trung.

Tục xin chữ đầu năm của người Việt với mong muốn cầu cho một năm bình an và vui vẻ, trong đó, xin chữ an đầu năm luôn là nguyện ước của nhiều người. Chữ an trong tiếng Hán có tầng lớp ý nghĩa như thế nào mà mọi người lại đều muốn có, cùng Trung tâm tiếng Trung tại Hà Nội THANHMAHSK tìm hiểu nhé!

hinh-anh-chu-trong-tieng-han-hoc-tieng-trung-voi-thanhmaihsk-1

1. Ý nghĩa chữ an trong tiếng Trung

Chữ “安” / ān/ gồm 6 nét, có kết cấu trên dưới, bộ Miên 宀 ( mái nhà) ở bên trên và bộ Nữ 女 ( đàn bà, con gái, phụ nữ ) ở bên dưới. Đây là chữ hội ý, người Trung Quốc quan niệm, người phụ nữ ở trong nhà là an toàn nhất.

Chữ 安 trong ngũ hành là Thổ, nghĩa gốc là an toàn, yên bình, yên ổn. Nếu ở trong tên người thì sẽ mang ý nghĩa an lạc, an nhàn, bình an, hạnh phúc. Theo thống kê có 52% lấy chữ 安 làm chữ đầu tiên trong tên của mình, 48% lấy chữ 安 làm chữ thứ hai trong tên của mình, ví dụ 张宏安 /Zhāng hóng ān/: Trương Hồng An, 王安琪 / wáng ān qí/: Vương An Kì,… 安 trong văn thơ cổ còn có nghĩa tương đương với 怎么.

Những từ đi với chữ an trong tiếng Trung đều mang nghĩa mong muốn sự bình yên cả về thể chất lẫn tinh thần.

hình ảnh Chữ an trong tiếng Hán-Học tiếng Trung với THANHMAIHSK 2

2. Cách chữ ghép tiếng Trung có chữ an

– 请安 /qǐng ān/: thỉnh an, vấn an, thăm hỏi.

VD: 我们给奶奶请安,祝奶奶福寿绵长 /wǒmen gěi nǎinai qǐng ān , zhù nǎinai fú shòu mián cháng/: chúng tôi thỉnh an bà nội, chúc bà nội sống lâu sống thọ.

– 早安 /zǎo ān /: chào buổi sáng

– 午安 /wǔ ān/ : chào buổi trưa

– 晚安 /wǎn ān/: chúc ngủ ngon

– 平安 /píng ān/: bình an.

VD: 祝你一路平安/zhù nǐ yí lù píng ān/: chúc bạn lên đường bình an

– 安定 /ān dìng/: yên ổn, ổn định; yên bình, làm yên; bình định; dẹp yên

– 安稳 /ān wěn/: an ổn, bình thản, tĩnh mịch; yên tĩnh, chắc chắn

– 安乐 /ān lè/ : an lạc, an vui, yên vui, thanh thản, thoải mái

– 安心 /ān xīn/ : an tâm.

VD: 让你一个人去我不安心/ràng nǐ yí gè rén qù wǒ bù ān xīn/ : để cậu đi một mình tôi không an tâm.

– 安宁 /ān níng/ : an bình, an ninh, trật tự trị an

– 安闲 /ān xián/ : an nhàn, thanh thản

– 安慰 /ān wèi/: an ủi, xoa dịu, dỗ dành.

VD: 不用安慰我,我没事 /bú yòng ān wèi wǒ , wǒ méi shì/: không cần phải an ủi tôi đâu, tôi không sao cả.

– 安然 /ān rán/: an nhiên, yên tâm; yên lòng; an tâm

– 安抚 /ān fǔ/ : trấn an; làm yên lòng; vỗ về; động viên; bình định; dẹp yên

– 安全 /ān quán/ : an toàn.

VD: 路上小心,注意安全 /lù shàng xiǎo xīn , zhù yì ān quán/ : đi đường cẩn thận, chú ý an toàn.

– 安危 /ān wēi/ : an nguy

– 安妥 /ān tuǒ /: thanh thản; bớt căng thẳng

– 安置 /ān zhì/: ổn định; xếp gọn; thu xếp; bố trí ổn thoả

– 安放 /ān fàng/ : sắp đặt; xếp gọn; để; đặt

– 安装 /ān zhuāng/ : cài đặt; lắp đặt; lắp; lắp ráp

– 安静 /ān jìng/ : yên tĩnh .

VD: 我喜欢在一些安静的地方呆着/wǒ xǐ huān zài yī xiē ān jìng de dìfang dāi zhe/: tôi thích ở những nơi yên tĩnh

– 安排 /ān pái/ : an bài, sắp xếp .

VD: 一切我们都安排好了/yí qiē wǒmen dōu ān pái hǎo le/: tất cả chúng tôi đã đều sắp xếp xong xuôi ổn thỏa hết rồi.

– 安眠 /ān mián / : ngủ yên, an giấc

– 公安 /gōng ān /: công an

– 治安 /zhì ān/: trị an, an ninh trật tự

– 不安 /bù ān/: bất an.

VD: 如果没有见到他平安回来我心里就会觉得不安/rú guǒ méi yǒu jiàn dào tā píng ān huí lái wǒ xīn lǐ jiù huì jué dé bù ān/: nếu như không nhìn thấy anh ấy bình an trở về, trong lòng tôi sẽ cảm thấy bất an.

– 安神 /ān shén/: an thần

– 安康 /ān kāng/: an khang.

VD: 祝你全家狗年幸福安康! /zhù nǐ quán jiā gǒu nián xìng fú ān kāng/: chúc cả gia đình bạn năm Tuất hạnh phúc an khang.

– 安处 /ān chù/: yên ổn nơi ăn chốn ở

– 安身立命 /ān shēn lì mìng /: sống yên phận; yên thân gởi phận, tìm nơi ổn định cuộc sống

– 安邦定国 /ān bāng dìng guó/ : an bang định quốc

– 安居乐业 /ān jū lè yè/ : an cư lạc nghiệp

– 安份守己 /ān fèn shǒu jǐ/ : an phận thủ thường

– 安分知足 /ānfèn zhīzú/: an phận, biết thế nào là đủ, biết thỏa mãn, thấy đủ

– 平安无事 /Píng ān wú shì/: bình an vô sự

– 变危为安 /biànwēiwéi’ān/: biến nguy thành an

– 安老怀少 /Ān lǎo huái shào/: kính già yêu trẻ

– 忐忑不安 /tǎntè bù’ān/: thấp thỏm không yên

– 不探虎穴,安得虎子/ bù tàn hǔ xué,ān dé hǔ zǐ/: không vào hang cọp sao bắt được cọp con

– 安危相易,祸福相生/ ān wēi xiāng yì,huò fú xiāng shēng/: bình an và nguy nan đều có thể chuyển hóa lẫn nhau, họa và phúc là do nhân quả.

– 碎碎平安/ Suì suì píng ān/: đây là câu người Trung Quốc thường nói khi chẳng may làm rơi vỡ đồ, có âm đọc giống với 岁岁平安/ Suì suì píng ān/: tuổi mới bình an.

3. Sự phổ biến của chữ an trong cuộc sống

Với tầng lớp ý nghĩa của chữ an tiếng Trung, chúng ta có thể bắt gặp ở rất nhiều nơi hình ảnh chữ an ở trên nhiều chất liệu khác nhau:

– Chữ an trong viết thư pháp: thông thường đầu năm, người Việt xin chữ an tại các chùa, đền để treo trong nhà cầu bình an.

hinh-anh-chu-trong-tieng-han-hoc-tieng-trung-voi-thanhmaihsk-3

– Chữ an trong trang trí nội thất

– Chữ an trong trang phục

Trên đây chúng ta đã cùng nhau tìm hiểu chữ an tiếng Hán 安 kết cấu cũng như một số ý nghĩa phổ biến của nó. Tìm hiểu về chữ Hán là một trong những cách lấy động lực giúp bạn học tiếng Trung tốt hơn. Càng khám phá ta càng thấy thú vị biết bao và luôn tự nhủ phải học thật chăm chỉ.

Trung tâm tiếng Trung tại Hà Nội THANHMAHSK hi vọng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các bạn trong quá trình học tiếng Trung. Chúc các bạn học tốt !

Xem thêm:

03 Th3

Chữ lộc trong tiếng Hán-Học tiếng Hán với THANHMAIHSK

Hình ảnh Hình ảnh Chữ lộc trong tiếng Hán-Học tiếng Hán với THANHMAIHSK 1
Chữ lộc trong tiếng Hán-Học tiếng Hán với THANHMAIHSK
5 (100%) 1 vote

Tìm hiểu về ý nghĩa chữ lộc trong tiếng Hán, học chữ lộc tiếng Hán như thế nào. Cách viết chữ lộc trong tiếng Trung đẹp.

“Lộc” là một trong ba chữ trong câu chúc tết của người Việt đó là “Phúc-Lộc-Thọ”. Vậy chữ lộc trong tiếng Hán có ý nghĩa như thế nào mà ai cũng mong muốn thật nhiều. Cùng Trung tâm tiếng Trung THANHMAIHSK tìm hiểu về chữ lộc để mọi người cùng sáng tỏ.

1. Ý nghĩa chữ Lộc trong quan điểm người Trung Hoa

Chữ LỘC trong văn hóa xưa thường nhắc người ta nhớ tới cảnh vinh quy bái tổ. Tôi nhớ ai đó ở Bến Tre kể về vị tiến sỹ đầu tiên ở đất Nam Kỳ về Ba Tri… Ngài đã đi bộ từ ngoài lộ qua bưng, qua vườn đến nhà tranh trong vườn để lạy thầy giáo của mình rồi sau đó mới về lạy cha, lạy mẹ… Sắp có bổng lộc triều đình, Phan Thanh Giản đã làm ta phải nể kính một nhân cách lồng lộng…

Hình ảnh Hình ảnh Chữ lộc trong tiếng Hán-Học tiếng Hán với THANHMAIHSK 1

Thời xưa, Lộc tức là bổng lộc mà các Quan được nhận. Có thứ Lộc của Vua ban, có thứ Lộc của dân biếu. Vua ban để ghi nhận công lao của các Quan đã chí công vô tư, thay Vua cai quản, chăn dắt đám dân chúng dưới quyền! Còn dân kính biếu Quan, để bày tỏ lòng biết ơn về một công việc gì đó, quan đã vì quyền lợi chính đáng của dân, mà làm. Như vậy hoàn toàn có thể nói Lộc chính là sự ghi nhận công lao các Quan: công lao với dân và công lao với Vua, với nước. Lộc là thành quả, sự đền đáp xứng đáng của công lao.

Lộc biểu tượng cho một trong những hạnh phúc lớn nhất của đời người đó là tài tộc dồi dào. Lộc còn bao hàm ý nghĩa may mắn, phúc tốt lành. Mỗi độ Tết đến, cùng với chữ Phúc, Thọ, người Việt Nam thường treo bộ tranh ba chữ Phúc – Lộc – Thọ để cầu mong tài lộc đến với mỗi người. Người dân còn có tục lệ đi hái lộc vào những ngày đầu năm mới. Người ta hái những lộc non về như đem tài lộc, may mắn về với gia đình trong suốt năm.

Tài Lộc cũng như chồi lộc non mùa xuân. Mùa xuân chồi lộc đua nhau xanh mơn mởn. Lộc non là thành quả của những ngày đông rét mướt trong kén lá. Lộc non tô điểm cành đào ngày Tết. Người Việt Nam chuộng những cành đào có cả lộc non xanh mơn mởn và hoa đào tươi hồng. Giống như, bên cạnh sức khỏe và hạnh phúc, người người đều mong muốn tài lộc để đủ đầy thêm hạnh phúc của mình. Lộc như chồi non, làm mơn mởn cuộc sống sung túc của mỗi người.

2. Tại sao các thánh hiền lại không coi trọng chữ lộc

Những vở tuồng cổ kể về những câu chuyện đậu đạt, có quan Lộc thường theo một motip 3 chặng:

Nhân vật mang mặt nạ trắng, mặc áo đỏ, đi 3 vòng quanh sân khấu. Anh ta chỉ cười mà không nói.

Anh ta bồng một đứa bé rất kháu khỉnh, rồi lại lượn 3 vòng trên sân khấu.

Anh ta ra sân khấu với tiền hô hậu ủng, mang theo 4 chữ GIA QUAN TIẾN LỘC nghĩa là “Thăng quan tiến Lộc”…

Bây giờ nói về cá Chép. Truyền thuyết kể rằng: Ngày xưa ở sông Hoàng Hà, con sông nuớc chảy rất dữ dội có đàn cá Chép bơi ngược dòng đến để nhảy qua Vũ Môn. Con nào vượt được dù lành lặn hay “trầy vi tróc vảy”, mang miệng dù bị chảy máu vẫn được hóa Rồng.

hinh-anh-chu-loc-trong-tieng-han-hoc-tieng-han-voi-thanhmaihsk-2

Đời Tống khi nói LÝ NGƯ KHIÊU LONG MÔN là chỉ những người đã trót lọt những khoa thi Hương, thi Hội, thi Đình như cụ Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến sau này. Họ sẽ ra làm quan. Mà “một người làm quan cả họ được nhờ”.

Có một chữ LỘC tiếng Hán đồng âm với “Lộc” mà chúng ta đang bàn này có nghĩa là con cá Chép (người Việt đọc là Lý chứ không đọc Lộc). Đây là lý do tranh Tết treo cá Chép nuốt Trăng. Tại sao đêm trăng trung thu lại rước đèn Cá Chép… Đó là ước mơ vượt Vũ Môn, hóa Rồng, có quyền lực. Quả thật muốn làm quan to, quyền cao chức trọng thì phải đoạt Giải Nguyên. Chữ GIẢI lại là con cua. Mua Cua cho nó cắn mấy trò lười học nhất định có ngày giải nguyên.

Chữ LỘC là danh lợi cho nên bàn về nó thật rắc rối “Quyền LỘC cũng lắm công phu”. Từ con Hươu tìm linh chi đang mọc sừng, mọc lộc, đang chạy nặng nề với cùng ông Phán Mọc Sừng bỗng dưng nhảy ùm xuống sông Hoàng Hà làm trọng tài ném những con Chép vượt Vũ Môn.

Muốn được LỘC nhiều thì làm quan to. Công, Hầu, Bá, Tư, Nam… Làm Công như Trần Hưng Đạo Quốc Công tiết chế thì có mà mơ. Làm Nam tước, Tử tước thì đi đâu cũng đã có “tiền hô hậu ủng” rồi. Cũng không hiểu sao, nhân vật Từ Hải ở truyện Kiều trong con mắt triều đình là giặc cỏ nhưng khi lập ra một bờ cõi “rạch đôi sơn hà” thì cụ Nguyễn lại gọi là TỪ CÔNG:

“Từ Công nghe nói thủy chung”

Hoặc :

“Từ Công sánh với phu nhân cùng ngồi”.

Cho hay, cái nhìn của Nguyễn Du, cách dùng từ của cụ quả là động chạm tới nhãn quan của vua chúa. Chẳng trách mà Tự Đức muốn đánh Cụ 300 roi! Chỉ cần được ban cho Hầu Tước là vị quan ấy đã được Phong cho hàng ngàn mẫu đất để Kiến tạo cơ đồ. Hóa ra PHONG KIẾN chính là chế độ cho chữ Lộc được nói tới nhiều nhất.

Có một chư “̃Hầu” đồng âm là “con Khỉ”. Vì thế ẤN PHONG HẦU là ấn phong cho con khỉ. Các bạn chú ý bức tranh con khỉ đang bất chấp ngã dập mặt đưa tay giành ấn. Chữ LỘC có biểu tượng là con Khỉ. Ai nói giành Lộc với thiên hạ lại không nguy hiểm? Khi vào triều thì phải HANH THÔNG QUAN LỘ. Vì thế mà ta gặp nghịch cảnh làm trò thật hài hước: con Khỉ ngồi trên lưng ngựa như chiến tướng xưa định uống rượu ngon nhưng nghe tiếng đàn tỳ bà giục lên yên cương sống mái chốn sa trường, vi vu ra chiến địa.

Ta gọi câu chuyện kiếm công danh, kiếm LỘC bằng mọi giá này là: MÃ THƯỢNG ĐÁO HẦU. Mọi người hãy tìm bức tranh hài này mà nhìn trước lúc mơ về Lộc nhé! Hình như bức tranh lem nhem quá. Vì LỘC mà lem nhem có ai chịu không? Bức tranh thể hiện khát vọng thăng quan tiến chức thật nhanh. Phải Nhất phẩm triều đình mới là bước thứ nhất…

Chữ LỘC còn dính tới cụm từ: “Quan thượng gia quan”. Mào gà trống trong tiếng Tàu là “Quan”. Do đó, khi vẽ con gà trống đứng oai vệ bên những bông Mồng Gà thì ta biết đó là lời chúc thăng quan tiến chức thật nhanh. Chữ “Quan” ở sau là “mũ nón”. Thay kiểu mũ tức là thay chức tước nên cụm từ trên được dịch là: “Lên quan, gia tăng chức tước”. Cũng nói thêm, con gà là linh vật đuổi tà. Đấy, để lấy bổng LỘC quyền lực phải đấu với người, đấu với ma quỷ, phải mang tội sát sinh không biết bao nhiêu gà qué tiêu đời, không biết làm lợi cho bao nhiêu lão thầy bói đưa chân gà về treo giàn bếp hong khói để “quét nhà ra rác”.

Hình ảnh Chữ lộc trong tiếng Hán-Học tiếng Hán với THANHMAIHSK 1

Hết động vật, người ta tìm Lộc trong hoa lá. Hoa Mẫu Đơn gọi là hoa phú quý. Cho nên người cầu lộc không thể thiếu hoa này. Nghe nói đây là loài hoa làm cho Từ Hy Thái hậu mê tới phát cuồng… Bộ 3 Mẫu Đơn, Ngọc Lan, Hải Đường gọi là: NGỌC ĐƯỜNG PHÚ QUÝ. Nghĩa là: “giàu sang điện ngọc”. Khi kết hợp bộ tứ: Sen, Cúc, Mận, Mẫu Đơn thì gọi là: TỨ QUÝ BÌNH AN. Nghĩa là “bình an bốn mùa”.

Vật lộn với chữ Lộc là đặt mình trong tình thế mong manh giữa chính và tà, giữa tốt và xấu. Quyền lực càng tuyệt đối, tha hóa càng tuyệt đối. Lòng tham con người là vô đáy… Cái Lợi cái LỘC cho người ta tăng trưởng cái phần “con” của con người tha hóa. Đặc biệt là con người hôm nay không kính Trời, kính Phật, chỉ biết lợi. Họ dùng tiền bạc để có “chức vị”. Sau đó dùng chức vị để có tiền bạc, hưởng thụ…

Người xưa có 2 chữ “Lộc Đố” nghĩa là làm sâu làm mọt, đục khoét dân mà có Lộc (Đố là con mọt gỗ). Chắc gương Hòa Thân giàu có hơn cả triều đình nhà Thanh bị tử hình là một bằng chứng. Đổng Trác bị treo thây ngoài chợ, Chu Vĩnh Khang, Bạc Hy Lai mổ sống người để bán nội tạng làm giàu đang chờ “Hiện thế hiện báo”…

Cần nhắc lại nàng Kiều khi làm phu nhân, làm vợ Từ Hải đã bị cái bả quyền lực này làm tha hóa nhân cách. Chữ LỘC biến người ta theo chủ nghĩa cơ hội, thành hợm hĩnh, thành người tự dối chính mình. Đây là tính toán của một người cơ hội:

Sao bằng LỘC trọng QUYỀN cao,
CÔNG DANH ai dứt lối nào cho qua…

Với chừng ấy câu chữ nhàn đàm về chữ Lộc, chúng ta đã có thể phát hiện ra ý nghĩa ẩn dụ thú vị ở những hình ảnh, những hình tượng trong hội họa, trong kiến trúc xưa. Hình ảnh quen thuộc là chú Hươu, con Cá Chép. Nhưng chữ Lộc không đơn giản là như vậy. Danh, Lợi, Tình vốn gắn với thế giới Mê của con người, là đặc sản của nhân loại. Con người vì ba chữ này mà sống. Do đó chữ Lộc cũng thật nhiêu khê, rắc rối…

Nhưng đó là những người có sự am hiểu sâu rộng về sách Thánh Hiền còn chúng ta ai cũng mong muốn rằng trong năm mới, gia đình sẽ có thật nhiều tài lộc, phát tài, gia đình thịnh vượng. Và đó cũng là lời chúc chúng ta thường dành cho nhau mỗi dịp năm mới.

Ngôn ngữ chính là một trong những cây cầu giúp chúng ta tìm hiểu lịch sử và văn hóa Trung Quốc, còn rất nhiều điều thú vị về nơi đây để chúng ta khám phá và cũng là động lực để chúng ta thêm hứng thú với mỗi bài học tiếng Trung được giảng dạy tại trung tâm tiếng Trung THANHMAIHSK.

Xem thêm:

Chữ thọ trong tiếng Hán

Chữ phúc trong tiếng Trung

Thú với với Hán tự tiếng Trung

Lão tử và tư tưởng Đạo gia trong Trung Quốc

3 lời răn trân quý của Không Tử

Chữ lộc trong tiếng Trung

02 Th3

Chữ phúc trong tiếng Hán

Hình ảnh Chữ phúc trong tiếng Hán -Học tiếng Trung với THANHMAIHSK 3
Chữ phúc trong tiếng Hán
5 (100%) 1 vote

Tìm hiểu về ý nghĩa chữ phúc trong tiếng Hán. Học cách viết chữ phúc tiếng Hán đẹp nhất. Trả lời câu hỏi tại sao người ta treo chữ phúc ngược trong nhà.

Chữ phúc là một trong những chữ được treo nhiều nhất trong các gia đình nhân dịp năm mới. Tuy nhiên có nhiều người chưa hiểu được ý nghĩa của chữ phúc và câu chuyện xung quanh nó. Hôm nay, hãy cùng học tiếng Trung Quốc tìm hiểu về chữ phúc trong tiếng Hán nhaaa!!!

1. Các ý nghĩa của chữ phúc trong tiếng Trung

Chữ Phúc tiêu biểu cho may mắn sung sướng, thường dùng trong từ ngữ hạnh phúc. Người Á Đông, từ lâu đã có nhiều hình tượng biểu thị chữ phúc, mà ngày nay người ta còn thấy trong nhiều vật trang trí, trong kiến trúc, và cả trên y phục.

hinh-anh-chu-phuc-trong-tieng-han-1

Chữ Phúc trong viết thư pháp

hinh-anh-chu-phuc-trong-tieng-han-2

Chữ phúc trong nội thất nhà ở

Chữ phúc gồm bộ thị đi liền ký tự phúc. Bộ thị vốn là hình vẽ cái bàn thờ. Ký tự phúc – mà người đời sau chiết thành nhất khẩu điền – vốn là hình vẽ một vò rượu. Nghĩa là sao? Cầu cho trong nhà được bình rượu luôn đầy. Thế là đầy đủ, dồi dào và hoàn bị. Ý nghĩa của chữ phúc thoạt kỳ thủy tương tự chữ phú 富, ngày nay được hiểu là giàu.

Chữ phúc lần hồi được hiểu là “điều tốt lành” hoặc “việc may mắn” . Do đó, nhiều kết hợp từ có yếu tố phúc nhằm chỉ sự vui vẻ, no ấm, an lành: phúc đức, phúc ấm, phúc tinh, phúc hạnh, hạnh phúc, hồng phúc, diễm phúc, v.v.

Lưu ý rằng trong từ Hán – Việt còn mấy chữ phúc đồng âm dị nghĩa:

– Phúc 輹 có nghĩa thanh gỗ ngang dưới xe dùng nắt liền trục xe với thân bánh xe;

– Phúc 輻 / 辐 có nghĩa nan hoa bánh xe;

– Phúc 蝮 có nghĩa rắn độc (như phúc xà là rắn hổ mang);

– Phúc 腹 có nghĩa là bụng (như tâm phúc, phúc mạc, v.v.);

– Phúc 覆 /复 có nghĩa lật lại, xem xét lại kỹ càng (như phúc khảo, phúc hạch, v.v..);

– Phúc 蝮 có nghĩa là chiều ngang, khổ, viền mép vải, bức (như nhất phúc hoạ là một bức tranh); phúc có nghĩa là con dơi.

Chữ phúc chỉ con dơi được viết khác: không phải bộ thị mà là bộ trùng (tức côn trùng, rắn rết, v.v.) đi kèm. Gọi cho đầy đủ theo tiếng Hán, con dơi là biên phúc 蝙蝠.

Tuy nhiên : cả hai chữ phúc đều được phát âm là phú. Do đó, họ lấy hình ảnh con dơi tượng trưng cho điều tốt lành, may mắn.

2. Tại sao ngày Tết người ta treo chữ phúc lộn ngược

hinh-anh-chu-phuc-trong-tieng-han-3

Chữ phúc treo ngược

Nhiều người khi đến nhà ai đó chơi nhìn thấy chữ phúc treo lộn người thì chê gia chủ không biết tiếng mà còn đòi chơi chữ. Nhưng thực chất đó mới là người chưa hiểu được ý nghĩa sâu xa của việc treo đó.

Thực chất, đây là một phong tục độc đáo và có nhiều cách giải thích khác nhau, ví như điển tích “thợ mộc Thái Sơn” chẳng hạn. Trên phương diện ngôn ngữ, đây lại là lối “chơi chữ” đặc sắc dựa theo tính chất đồng âm.

Chữ phúc tiếng Hán lộn ngược gọi là gì ? Phúc đảo. Tiếng Bắc Kinh đọc là phú dào, y hệt như… phúc đáo, nghĩa là “điều tốt, vận may đến”. Đầu năm đầu tháng (hoặc làm lễ khai trương cửa hiệu, ăn mừng tân gia, v.v.), hỏi ai chẳng mong “bồng ông Phúc vào nhà” như vế đối Nguyễn Công Trứ từng nêu ?

Mà có mấy ông Phúc tất cả ? Ai đấy bảo rằng có 3 ông tạo thành “bộ tam” Phúc – Lộc – Thọ. Song, dịp Tết, sao lại thấy nhiều nhà dán “xuân liên” trước cửa đề Ngũ Phúc lâm môn – tức năm ông Phúc ghé thăm?

3. Chữ phúc biến hoá thành phước

Phúc và phước là từ đồng nghĩa dị âm. Chính âm là phúc. Biến âm thành phước. Vấn đề đặt ra: sự biến âm ấy diễn ra từ bao giờ? Vì sao? Đâu là giới hạn?

Mọi người đều biết rằng hiện tượng “viết chệch, đọc lệch” từng xuất hiện trong lịch sử do kiêng húy. Chữ phúc bị kiêng, thoạt tiên từ thời Tây Sơn. Thoái thực ký văn của Trương Quốc Dụng (1797 – 1864) có đoạn: “Xã tôi xưa gọi là Long Phúc, vì Nguyễn Huệ có tên giả là Phúc, nên đổi gọi là Long Phú”.

Vậy là Phúc biến thành Phú, tức thay hẳn cả chữ lẫn nghĩa. Còn Phúc biến thành Phước thì giữ nguyên chữ nghĩa, chỉ đổi âm, thực sự phổ biến kể từ năm Quý Mùi 1883 – thời điểm công tử Ưng Đăng lên ngôi vua, chọn niên hiệu Kiến Phúc.

Dù đây không phải là trọng húy được triều đình chuẩn định ban bố, song từ hoàng thân quốc thích đến quan quân lẫn thứ dân thảy đều gọi kiêng. Dòng họ Nguyễn Phúc được đọc trại ra Nguyễn Phước. Theo đó, Phúc – Lộc – Thọ biến thành Phước – Lộc – Thọ; may phúc thành may phước; phúc đức thành phước đức; diễm phúc thành diễm phước, v.v.

Tuy nhiên, do không phải trọng húy mà chỉ là khinh huý, nên sự biến âm đã diễn ra chẳng triệt để. Vì thế cần lưu ý rằng trong Việt ngữ, chẳng phải bất kỳ trường hợp nào phước đều có thể thay thế hoàn toàn cho phúc. Ví dụ: hạnh phúc, phúc đáp, phúc âm, v.v.

Tương tự trường hợp hoa đổi thành bông (do kiêng húy danh Tá Thiên Nhơn hoàng hậu Hồ Thị Hoa), nhiều khi phúc biến ra phước lại mang màu sắc có vẻ “thuần Việt” hơn. So sánh ân phúc với ơn phước ắt rõ điều này.

Trên đây là những giải đáp cho thắc mắc chữ phúc trong tiếng Trung. Chữ tiếng Hán vô cùng thú vị đúng không nào và bạn sẽ còn bất ngờ hơn về chữ Hán trong các buổi học tiếng Trung tại Trung tâm dạy học tiếng Trung THANHMAIHSK. Các từ được giải đáp với tầng ý nghĩa sâu nhất, cặn kẽ nhất giúp bạn nhớ từ lâu hơn, nhanh hơn.

Xem thêm:

04 Th1

Học tiếng Trung cơ bản – 5 chủ điểm ngữ pháp quan trọng

Học tiếng Trung cơ bản – 5 chủ điểm ngữ pháp quan trọng
5 (100%) 1 vote

Học tiếng trung cơ bản, bắt đầu từ những kiến thức đơn giản và thiết thực nhất. Nắm được cái nền tảng, sẽ làm tiền đề cho những chuỗi kiến thức cao hơn.

Dưới đây là 5 chủ điểm ngữ pháp quan trọng giúp bạn khởi đầu cho học tiếng Trung cơ bản.

  1. Định ngữ

Định ngữ (定语) được đặt trước danh từ(用在名词前)

– Làm rõ quan hệ sở hữu, nên dùng “的”:

这是我的书。(Zhè shì wǒ de shū – Đây là sách của tôi.)

那是他的笔。(Nà shì tā de bǐ – Kia là bút của anh ta.)

– Làm rõ tính chất của người hoặc sự việc, không dùng “的”:

他是汉语老师。(Tā shì hànyǔ lǎoshī –  Anh ta là thầy giáo tiếng Trung.)

这是中文书 (Zhè shì zhōngwén shū –  Đây là sách tiếng Trung.)

– Làm rõ quan hệ thân thuộc hoặc địa điểm thân thuộc, có thể dung “的” hoặc không,nhưng thường không dùng “的” hơn.

他是我爸爸。(Tā shì wǒ bàba – Ông ấy là ba của tôi.)

那是我们学校。(Nà shì wǒmen xuéxiào – Kia là trường của chúng tôi.)

2. Trạng ngữ

Trạng ngữ 状语 dùng trước động từ hoặc hình dung từ(用在动词 / 形容词前)

– Phó từ làm trạng ngữ :

她很漂亮。(Tā hěn piàoliang – Cô ấy rất xinh đẹp.)

我常常去商店 (Wǒ chángcháng qù shāngdiàn – Tôi thường đi tới cửa hàng.)

– Cụm giới tân làm trạng ngữ

我从美国来 。(Wǒ cóng měiguó lái – Tôi đến từ Mỹ.)

我跟中国老师学汉语。(Wǒ gēn zhōngguó lǎoshī xué hànyǔ.)

Tôi học tiếng Trung cùng thầy giáo Trung Quốc.

– Hình dung từ hai âm tiết thường dùng “地”:

他高兴地说:“今天是我的生日”

Tā gāoxìng de shuō: “jīntiān shì wǒ de shēngrì”

Anh ta vui vẻ nói: “Hôm nay là sinh nhật của tôi”

– Hình dung từ đơn âm tiết thường không dùng “地”:

你快走!(Nǐ kuàizǒu! – Bạn đi nhanh lên!)

– Trước hình dung từ có phó từ trình độ, thường phải dùng “地”:

他很认真地学习 (Tā hěn rènzhēn dì xuéxí. – Anh ấy học hành rất nghiêm túc.)

3. Bổ ngữ kết quả

Bổ ngữ kết quả (结果补语) dùng sau động từ, biểu thị kết quả động tác(用在动词后,表示动作的结果)

Hình thức : Động từ + động từ/ hình dung từ

动词 + 动词/形容词

– Động từ + động từ (动词 + 动词)

Các động từ làm bổ ngữ kết quả gồm có 懂, 见, 完,  在, 到, 给, 成…

我听懂了。(Wǒ tīng dǒngle. – Tôi nghe hiểu rồi.)

我看见他了。(Wǒ kàn jiàn ta le. – Tôi nhìn thấy anh ta rồi.)

– Động từ + tính từ动词 + 形容词

Các tính từ làm bổ ngữ kết quả gồm có 对, 错, 好, 清楚, 早, 晚…

你说对了。(Nǐ shuō duì le. – Bạn nói đúng rồi.)

饭做好了. (Fàn zuò hǎole. – Cơm nấu xong rồi.)

4. Bổ ngữ xu hướng đơn

Cấu trúc: Động từ + 来/去

Các động từ có thể dùng bổ ngữ xu hướng gồm có hai loại: Động từ chỉ xu hướng và động từ thường

  • Động từ chỉ xu hướng:

Cấu trúc: 上, 下, 进, 出, 回, 过, 起  +  来/去

Khi động từ có tân ngữ:

+ Khi tân ngữ là danh từ chỉ địa điểm, ta có cấu trúc:

Động từ + tân ngữ địa điểm + 来 / 去

明天他回北京来 。(Míngtiān tā huí běijīng lái.)

Ngày mai anh ta sẽ quay về Trung Quốc.

他进图书馆去了。(Tā jìn túshū guǎn qùle. – Anh ta đi vào thư viện rồi.)

Khi tân ngữ là danh từ chỉ sự vật, ta có hai cách dùng:

Cách 1: Động từ +来 / 去 +Tân ngữ chỉ sự vật sự việc

我借来一本书。(Wǒ jiè lái yī běn shū. – Tôi mượn một cuốn sách.)

Cách 2: Động từ + Tân ngữ chỉ sự vật sự việc + 来/去

你快倒茶来!(Nǐ kuài dào chá lái! – Bạn mau rót trà ra đi!)

5. Bổ ngữ xu hướng kép

Cấu trúc: Động từ + 上,下, 进, 出, 回, 过, 起  + 来/去

Khi động từ có tân ngữ:

Khi tân ngữ là danh từ chỉ địa điểm, ta có cấu trúc:

Động từ  + 上,下, 进, 出, 回, 过, 起  + Tân ngữ chỉ địa điểm + 来/去

他走进教室来。(tā zǒu jìn jiàoshì lái. – Anh ta đi vào phòng học.)

Khi tân ngữ chỉ sự vật sự việc, có thể có hai cách diễn đạt:

Cách 1: Động từ + 上,下, 进, 出, 回, 过, 起  + 来/去 + Tân ngữ chỉ sự vật sự việc

他拿出来一本书。(Tā ná chūlái yī běn shū. – Anh ta lấy ra một cuốn sách.)

Cách 2: Động từ + 上,下, 进, 出, 回, 过, 起  + Tân ngữ chỉ sự vật sự việc +来/去

他拿出一本书来。(Tā ná chū yī běn shū lái. – Anh ta lấy ra một cuốn sách.)

Xem thêm: Chiết tự chữ Hán

Trên đây là những chủ điểm ngữ pháp tiếng Trung cơ bản cho người mới học tìm hiểu và bắt đầu quá trình học tiếng Trung của mình. Cùng học tiếng Trung mỗi ngày với chúng tớ nhé!

15 Th7

Vương Triều Hoàng Kim nhất trong lịch sử Trung Quốc

Rate this post

Sau thời đại vua Tần là thời kỳ hoàng kim, rực rỡ nhất của vương triều Hán. Triều đại Hán gồm có Tây Hán b( 206 – 25 trước công nguyên ), kinh đô là Tràng An và Đông Hán ( 25 – 220 ) kinh đô ở Lạc Dương.

Trước tiên chúng ta sẽ cùng tìm hiểu thời kỳ Tây Hán , bắt đầu với Hán Cao Tổ Lưu Bang. Cao Tổ (Lưu Bang) vốn là một nông dân vô học, làm đình trưởng (như cai trạm) thời nhà Tần, nhờ bọn sĩ Tiêu Hà, Trương Lương, Hàn Tín, Trần Bình, Anh Bố, Bành Việt… mà thắng được Sở Bá Vương. Ông cho đó là công lao của mình và không cần dùng đến họ nhưng rồi ông ta cũng phải nhận rằng có thể ngồi trên lưng ngựa mà chiếm thiên hạ, chứ không thể ngồi trên lưng ngựa mà trị thiên hạ, nên phải nghe lời Thúc Tôn Thông, Lục Giả, Lịch Tự Cơ theo phép tắc thời trước mà đặt ra triều nghi, từ đó triều đình mới có trật tự, có vẻ tôn nghiêm.


Tuy nhiên ông vẫn cấm đạo Nho, vẫn không bỏ hiệp thư (lệnh đốt sách Nho); mà cũng như Tần Thủy Hoàng, rất mê Đạo giáo. Trong 7 năm trị vì Hán Cao Tổ đã tăng cường ách thống trị tập quyền trung ương, chế định một loạt phương châm chính trị “cùng nghỉ với dân”, đã củng cố ánh thống trị của mình. Năm 159 trước công nguyên, sau khi Hán Cao Tổ băng hà, Huệ đế kế vị, nhưng lúc đó quyền lực thực tế đã nằm trong tay hoàng hậu Hán Cao Lã Trĩ. Hoàng hậu Lã Trĩ nắm quyền trong 16 năm, là một trong số ít những phụ nữ nắm quyền thống trị trong lịch sử Trung Quốc. Năm 183 trước công nguyên, Văn Đế kế vị, ông và người con là Cảnh Đế  ( năm 156-143 trước công nguyên ) tiếp tục thi hành phương châm chính sách “cùng nghỉ với dân”, giảm bớt thuế khóa, khiến cho đế chế nhà Hán phát triển hưng thịnh, các nhà sử học gọi thời kỳ này là “Văn Cảnh chi trị”. Tuy nhiên, Văn đế hiền quá, thiếu cương quyết, bọn chư hầu dần dần kiêu căng, Hung Nô càng không kiêng nể, do đó, Cảnh đế trong 16 năm cầm quyền phải lo dẹp một cuộc nổi loạn của bảy chư hầu ở Ngô, Sở, Triệu… và đối phó với Hung Nô , mở rộng phạm vi thống trị của vương triều nhà Hán, đảm bảo cho phát triển kinh tế, văn hóa của vùng miền bắc nhà Hán. Vũ đế lúc cuối đời ngừng các cuộc chinh chiến, chuyển sang ra sức phát triển nông nghiệp, làm cho kinh tế nhà Hán tiếp tục phát triển. Sau đó Chiêu Đế kế vị tiếp tục phát triển kinh tế, làm cho nhà Hán thịnh vượng tới đỉnh cao.

Sau 38 năm thi hành chính sách “Cùng nghỉ với dân” của Chiêu Đế và Tuyên Đế, nhà Hán không ngừng đi lên , phát triển hưng thịnh nhân dân đủ cơm no áo mặc, hạnh phúc bình ổn. Kinh tế, chính trị ổn định làm cho ngành thủ công, thương nghiệp, văn nhân nghệ thuật cũng như khoa học tự nhiên có bước phát triển vượt bậc. Cùng với khoa học-kỹ thuật được nâng cao làm cho năng suất của các ngành thủ công với luyện kim và dệt làm chính thời Tây Hán được nâng cao rất lớn, ngành thủ công phát triển đã thúc đẩy ngành thương nghiệp phồn thịnh, thông qua con đường tơ lụa đã mở ra sự giao lưu các mặt ngoại giao, thương mại…với các nước Tây Á Nhưng rồi vì hoạn quan và ngoại thích, Hán bị Vương Mãng (một ngoại thích) thoán quyền, mới đầu tự xưng là Giả Hoàng đế (nghĩa là thay quyền Hoàng đế), sau tiến hẳn ngôi vua, đổi quốc hiệu là Tân vào năm thứ 8 công nguyên.

Thời kỳ là Đông Hán do Hán Quang Vũ đế Lưu Tú sáng lập. Ông thiên đô qua Lạc Dương, nên nhà Hậu Hán cũng có tên là Đông Hán. Cũng như Thương, Chu, thời nào yếu thì dời đô qua Đông. Năm thứ 2 Kiến Vũ, Quang Vũ đế ra lệnh cải cách toàn diện chính sách cũ của Vương Mãng, chỉnh đốn quan lại, thành lập Thượng thư gồm 6 người phụ trách đại sự quốc gia để làm suy yếu hơn nữa quyền hạn của tam công, tức Thái Úy, Tư Đồ và Tư Không; phế bỏ “quan nô”; thanh tra đất đai làm cho đời sống của nhân dân dần dần ổn định. Đến giữa thế kỷ thứ nhất, trải qua sự thống trị của 3 đời vua là Quang Vũ Đế, Minh Đế và Chương Đế, vương triều Đông Hán đã từng bước lấy lại sự thịnh vượng của nhà Hán trước đây, thời kỳ này được người đời sau gọi là “Quang Vũ Trung Hưng”.  Thời kỳ đầu Đông Hán, do chính quyền được tăng cường một bước và hội nhập với thế lực địa phương làm cho đất nước ổn định, kinh tế, văn hoá, khoa học-kỹ thuật…đều vượt thời Tây Hán. Năm 105 công nguyên, Thái Luân cải tạo công nghệ làm giấy khiến cho phương thức ghi chép văn tự của Trung Quốc đã thoát khỏi thời đại ghi vào những thẻ tre, đồng thời kỹ thuật làm giấy cũng trở thành một trong 4 phát minh thời cổ Trung Quốc được lưu truyền cho đến ngày nay.

Về mặt khoa học tự nhiên đã thu được thành tựu rất cao mà tiêu biểu của giới học thuật Đông Hán là Trường Hoành. Trương Hoành đã chế tạo ra các thiết bị khoa học như “Hồn thiên nghi” “Địa động nghi” …Ngoài ra, danh y Hoa Đà cuối thời Đông Hán là bác sĩ ngoại khoa đầu tiên kể từ khi có sử ký ghi lại đến nay sử dụng kỹ thuật gây mê để phẫn thuật điều trị cho người bệnh.

Về sau những ông vua kế vị Lưu Tú đều không đủ sức để đưa nhà Hán hưng thịnh mà ngày càng đi tới suy thoái và cuối cùng là chấm dứt 1 triều đại phồn vinh mở ra 1 trang mới trong lịch sử – thời kỳ Tam Quốc.

Trên đây Trung tâm tiếng trung đã giới thiệu tới các bạn bài viết: “Mẫu câu tiếng Trung kinh điển trong phim Trung Quốc”. Hi vọng bài viết sẽ giúp ích phần nào cho quý khách am hiểu hơn về tiếng trung cũng như các tự hoc tieng trung hiệu quả.

LỊCH KHAI GIẢNG CHI TIẾT CÁC KHÓA TIẾNG TRUNG TRONG THÁNG 9/2018XEM CHI TIẾT
hotline